Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Khi đờn ca tài tử trở thành di sản nhân loại

Những năm tháng công tác ở “ Đất Phương Nam”, điều tôi ấn tượng nhất là những câu chuyện về Đờn Ca Tài Tử. Cứ trong một lần gặp mặt đầu tiên bất cứ ai đó từ công chức cho đến thương gia, tài xế xe lôi hay tài công tắc rángv,v.…nói đến đờn ca tài tử là họ muốn "xung phong" rồi….Chính vì vậy tôi đã về xứ Bạc Liêu để tìm hiểu về bài “ Dạ Cổ Hoài Lang” của Cao Văn Lầu – Nhiều người cho rằng ông chính là ông Tổ của món đờn ca tài tử ở “Đất Phương Nam:. Nhân dịp đờn ca tài tử được công nhận là DI SẢN CỦA NHÂN LOẠI, tôi muốn viết vài dòng và gởi lên một bài ca điển hình…
'Tứ tuyệt' trong đờn ca tài tử: Đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu


Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vừa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Quyết định trên được đưa ra tại phiên họp ngày 5/12 của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra ở Baku, Azerbaijan, từ ngày 2/12-7/12, Thông tấn xã Việt Nam đưa tin.
Đại diện của UNESCO được các báo Việt Nam dẫn lời sau lễ vinh danh nói tổ chức này "hy vọng Việt Nam sẽ có các biện pháp bảo vệ nhằm hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức".
Đờn ca tài tử của Việt Nam là một trong số 14 nét văn hóa từ các nước trên thế giới vừa được UNESCO bổ sung vào danh sách di sản phi vật thể của nhân loại.
Hồ sơ đờn ca tài tử Nam Bộ đã được phía Việt Nam tổng hợp hồi tháng 8 năm 2010 và sau đó trình lên UNESCO vào tháng 5 năm 2011.
Năm ngoái, đờn ca tài tử cũng được Bộ Văn hóa Việt Nam đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia.
Nghe bài Dạ Cổ Hoài Lang ở Vườn nhãn cổ Bạc Liêu

Đờn ca tài tử có tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 19
Xuất nguồn từ miền Nam Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, loại hình nghệ thuật này là di sản phi vật thể thứ 8 của Việt Nam được UNESCO vinh danh.

Những loại nhạc cụ thường sử dụng trong đờn ca tài tử thường bao gồm đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu, hay còn gọi là tử tuyệt.




Phần mộ vợ chồng cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu

Từ là từ phu tướng,
Báu kiếm sắc phán lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng.
Năm canh mơ màng.
Em luống trông tin chàng,
Ôi gan vàng quặng đau.(í a)
Đường dù say ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu.
Vọng phu vọng luống trông tin chàng.
Sao nỡ phũ phàng...
Chàng là chàng có hay?
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
Bao thuở đó đây sum vầy,
Duyên sắc cầm lợ phai.(í a)
Là nguyện cho chàng
Hai chữ an bình an.
Trở lại gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.(í a)
Ký âm cổ nhạc:
(theo loại đàn dây Bắc)
Hò lìu xang xê cống
Líu cống líu cống xê xang
Xừ xang xê hò líu cống xê xang hò
Liu xế xang xự xề xang lìu hò
Xừ liu xáng ũ liu cống xề
Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu
Hò lìu xang xang xế cống
Xê xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
Xừ xang xế, líu xê xang xư’'
Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
Xừ, xê líu xừ, líu cống xê, líu hò
Liu xề xang xự cống xê xang lìu hò
Xừ xang xừ cống xế
Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
Xừ xang xề hò líu cống xế xang hò
Lưu xáng xàng, xề liu xề xáng ú liu
Hò xự cống xê xang hò
Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
Xừ xang xế, hò líu cống xê xang hò
Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu
Bản Dạ cổ hoài lang sử dụng thang âm lên tới 7 cung, thuộc hệ thang âm Ai, Oán.


Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Ảnh nghệ thuật của tôi phải THẬT và ĐẸP

Anh La Tuân, phóng viên đài Phát thanh- truyền hình tỉnh Bình Thuận liên lạc với tôi nhiều lần ngỏ lời phỏng vấn khi biết tôi về vườn…Suy nghỉ mãi tôi chấp nhận với điều kiện nhỏ đừng gọi tôi là “ Nghệ sĩ nhiếp ảnh” mà chỉ là “ Nhà nhiếp ảnh”. Anh ta bằng lòng. Thế là có một cuộc trao đổi ngắn tại nhà. Bài viết của La Tuân ( Thành Chương). Tôi thấy cũng vui nên sử dụng bài này đưa lên trang Blog “Lang Thang” để bạn bè đồng cảm. Bài này phát trong chương trình Tuần san Văn hóa nghệ thuật, lúc 8 giờ 30 phút thứ bảy, 14/12 - FM Bình Thuận (qua đài hay điện thoại),  website www.binhthuantv.vn chọn mục Phát thanh trực tuyến, hoặc binhthuan.radiovietnam.vn.


Nhà báo – nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Thành sinh năm 1958 tại Phan Rang, hiện đang sinh sống và sáng tác tại Phan Thiết. Anh đã có hơn 30 năm công tác tại Thông tấn xã Việt Nam và cũng gần bằng thời gian đó cầm máy ảnh sáng tác trên lĩnh vực báo chí nghệ thuật, tạo nên nhiều bức ảnh có giá trị đưa đến mọi người.

Nghể Truyền Thống


Bước chân vào nghề báo với hành trang là những kiến thức được học ở lớp đào tạo do Thông tấn xã Việt Nam mở từ năm 1977-1980, Hữu Thành trở thành phóng viên Thông tấn xã, biên chế ở Phân xã Thuận Hải.
Cuộc sống dựng xây đất nước thời hậu chiến tạo nên không khí sôi nổi ở nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực đã cuốn hút bước chân của chàng phóng viên trẻ, anh xông xáo đến với những vùng đất khác nhau để phản ánh không khí lao động sản xuất ở cơ sở gửi về cơ quan.
Cũng từ những chuyến đi như thế, Hữu Thành nhận ra rằng, những tin bài mình gửi về sẽ thiếu sức sống nếu như không được minh họa bằng những bức ảnh, nhất là những hình ảnh đẹp, vì vậy, anh đã dành dụm tiền để mua cho mình một chiếc máy ảnh phục vụ nghề nghiệp, và cũng là để thỏa mãn đam mê khắc họa cái đẹp cuộc sống. Nhà báo - nhà nhiếp ảnh Hữu Thành chia sẻ:
Săn Voi
Vũ Khúc
(Thực ra là anh được đào tạo chuyên viết chứ không phải chụp ảnh, nhưng sau đó trong quá trình tác nghiệp anh mê ảnh, mình cứ đặt dấu hỏi tại sao mình đi làm báo mà cứ viết, trong khi đó nhiều cái rất là đẹp mà không ghi hình lại? Cuối cùng phải dành dụm tiền mua cái máy ảnh, mang tính chất là ghi lại những hình ảnh trong quá trình đi viết, đó là điều đầu tiên anh đến với nhiếp ảnh từ nghề báo). ( Radio)



Tìm Con Trong Lửa

Theo Hữu Thành, thực ra hồi đó khái niệm về nhiếp ảnh nghệ thuật trong anh còn mơ hồ. Qua một số tạp chí về nhiếp ảnh thời trước như Con Trâu hay Quê Hương và nhất là tờ Báo ảnh Việt Nam của cơ quan đã giúp anh dần dần hiểu rõ hơn về loại hình nghệ thuật này, ấn tượng vào trong suy nghĩ, làm cho anh trở thành con người mê ảnh, nên khi đi làm tin bài, luôn có tư tưởng chụp ảnh nghệ thuật với quan niệm rõ ràng đó là ảnh nghệ thuật báo chí, coi trọng tính xác thực của tác phẩm.
Những người thầy để Hữu Thành học hỏi như Lê Minh Trường (tác giả bức ảnh nổi tiếng Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước), Văn Thính (tác giả bức ảnh Cầu người) và nhất là Lâm Hồng Long (tác giả của bức ảnh nổi tiếng Mẹ con ngày gặp lại), cùng nhiều nhà nhiếp ảnh khác ngay tại chính cơ quan Thông tấn xã như Lâm Tấn Tài, Văn Bảo, Chu Chí Thành,…họ có những tác phẩm mà khi xem anh cảm thấy xúc động, học hỏi được nhiều điều, trong đó cơ bản nhất là tính khoảnh khắc trong từng bức ảnh. 

Bước nhảy Mai Hoa Thung

Hoa Xứ Biển

Đất Trổ Hoa
Dấu ấn ban đầu của Hữu Thành trong ảnh nghệ thuật đó là tác phẩm Vũ khúc anh chụp đàn cò ở vùng ven Phan Thiết, bức ảnh được trao giải 3 của tỉnh và triển lãm khu vực Đông Nam bộ. Nhưng có lẽ ba tác phẩm báo chí nghệ thuật mà nói đến Hữu Thành người ta đều nhớ đó là Nghề truyền thống, Tìm con trong lửa và Săn voi. Tác phẩm Nghề truyền thống được chụp khi anh đi tác nghiệp tại Hàm Tiến, thể hiện hình ảnh người phụ nữ đang làm công việc của mình bên những mái mắm cá cơm với bố cục và ánh sáng rất đẹp, giới thiệu cho mọi người thấy nét đặc trưng của người dân Phan Thiết với nghề làm nước mắm truyền thống. Tác phẩm này giúp anh đoạt giải B - ảnh xuất sắc quốc gia năm 1996.
Mùa Lưới Ghẹ

Me Rai

Rặng Dừa ở Rạng
Tác phẩm Tìm con trong lửa được Hữu Thành chụp trong vụ cháy ở phường Lạc Đạo vào chiều mồng hai tết cách nay khoảng hai mươi năm. Hình ảnh một người cha bồng con chạy, lửa cháy xung quanh, sự đau đớn, hoảng hốt về nỗi mất mát hiện lên trên khuôn mặt. Đây là tấm ảnh được triển lãm quốc tế đầu tiên của anh năm 1998. Và tác phẩm Săn voi được Hữu Thành thực hiện vào tháng 9/2001 trong chiến dịch bắt voi dữ giết 12 người ở Tánh Linh. Tấm ảnh thể hiện cảnh chuyên gia bắt voi Malaixia đang từ con voi nhà chồm qua xích con voi dữ đầu đàn để chuẩn bị đưa lên Đắc Lắc. Với tác phẩm này, anh đã được giải thưởng báo chí của Thông tấn xã Việt Nam. Đặc biệt, những tác phẩm của anh đã được ngành Kiểm lâm chọn làm bộ ảnh tư liệu chính thức trong chiến dịch bắt voi dữ này. Những tác phẩm trên đã đưa tên tuổi nhà nhiếp ảnh Hữu Thành đến với công chúng nhiều hơn. Trong thời gian này, anh cũng có các tác phẩm được trao các giải thưởng như giải báo chí của Thông tấn xã Việt Nam, giải báo chí quốc gia, ảnh xuất sắc quốc gia v.v…Các tác phẩm này thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt của Hữu Thành trong hoạt động báo chí, nghệ thuật.
Quyết Thắng

Chống chọi với Sóng Dữ

Thi Lắc Thúng


Cùng về
Làng cá bè ở Châu Đốc
Mùa Lũ
Nhà báo – nhà nhiếp ảnh Hữu Thành nói:(Radio)
(Mình làm báo 33 năm, trong suốt thời gian làm báo dài như vậy nó ảnh hưởng lớn đến niềm đam mê ảnh nghệ thuật. Trong hàng trăm tác phẩm ra đời thì ảnh nghệ thuật phải mang hơi hướng báo chí, tức là tính thông tin trong từng tác phẩm rất rõ. Trong tương lai cũng thế. Dù xã hội phát triển công nghệ số, về máy móc, công nghệ phần mềm cũng chỉ là phương tiện thôi chứ còn về góc nhìn tác phẩm, thể hiện tác phẩm phải mang sự thật cuộc sống – thật và đẹp, không tô hồng quá mà cũng không bi kịch hóa. Bản thân cuộc sống là như thế thì người nhiếp ảnh phải là như thế). 



Về Chuồng


Nước lên non cao



Rừng Khộp Tây Nguyên

Năm 2006, Hữu Thành rời cương vị Trưởng Phân xã Bình Thuận về thành phố Hồ Chí Minh làm Phó Phòng phụ trách chuyên môn của Báo ảnh Việt Nam khu vực phía Nam. Từ đây anh có điều kiện đi nhiều hơn đến những vùng đất khác nhau để thực hiện những bộ ảnh phục vụ công việc và qua đó chắt chiu cho mình những tác phẩm ảnh nghệ thuật ưng ý. Trong giai đoạn từ 2006 đến trước khi nghỉ hưu vào năm 2013, với vai trò phụ trách, anh đã cùng các đồng nghiệp thực hiện được nhiều chuyên đề cho báo ảnh Việt Nam như: Biến đổi khí hậu, Sống giữa hoang mạc, Những hạt muối Việt Nam, Câu chuyện xuất khẩu gạo ở miền Nam, Rừng khộp Tây Nguyên, Những quần đảo cuối trời Nam… tạo nên dấu ấn riêng trong nghề nghiệp và được trao giải thưởng báo chí của Thông tấn xã Việt Nam.
Vùng Hoang Mạc
Năm 2013, anh xin cơ quan cho nghỉ hưu sớm, khi mới 55 tuổi. Trước mắt là nghỉ ngơi sau chặng đường hơn 30 năm lang thang cùng nghề báo, tiếp đến là những dự định nghề nghiệp mà khi còn đang công tác chưa thực hiện được.
Band
(Mình xin nhà nước nghỉ ngơi sớm để tiếp tục thực hiện cho được những chương trình riêng tư về ảnh, đi lang thang cả nước để tìm hiểu cuộc sống, chụp thêm những tác phẩm đúng với bản chất con người mình, những tri thức mình có, ham muốn mình có để sẽ làm một cuốn sách ảnh 100 bức ảnh của cuộc đời mình).


Song song với quá trình làm báo và sáng tác ảnh nghệ thuật, Hữu Thành còn là người đóng góp nhiều cho phong trào nhiếp ảnh địa phương. Anh nguyên là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Phan Thiết từ ngày đầu thành lập, là Phân hội trưởng Phân hội nhiếp ảnh – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, ủy viên Ban chấp hành Hội nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (khóa V), hiện là Chi hội Trưởng Chi hội Nhiếp ảnh Thông tấn xã Việt Nam tại TPHCM. Anh cũng được trao các tước hiệu: Nhà nhiếp ảnh xuất sắc Liên đoàn nhiếp ảnh nghệ thuật Quốc tế (E.FIAP), nghệ sĩ có nhiều đóng góp của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (HON.VAPA).


THÀNH CHƯƠNG


Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Vũng Chùa – Đảo Yến

Vũng Chùa, nơi đặt phần mộ của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp từ nay và ngàn đời sau sẽ được người đời lưu danh muôn thuở. Để biết thêm về mảnh đất được Đại Tướng chọn an giấc ngàn thu trước khi qua đời như thế nào, tôi xin giới thiệu bài viết của tác giả Quốc Nam có tự đề : “Vũng Chùa – Đảo Yến”



Chúng tôi đã có mặt ở Vũng Chùa – Đảo Yến, một mạch đất có một không hai. Thầy phong thủy đi với chúng tôi nói, nơi đây nếu là chốn an giấc ngàn thu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không những rạng danh vùng đất Đèo Ngang mà còn làm cho đất nước hiển danh, ông nhìn theo trục tâm linh.

Một nơi bí ẩn

Quảng Đông, một địa phương hẻo lánh cuối cùng của tỉnh Quảng Bình ở phía biển. Hệ núi Trường Sơn kéo ra biển thành dãy Đèo Ngang hùng vĩ, cấu tạo địa chất ở đây là đất đá khô cằn, nhưng là nơi phát tích rất nhiều huyền thoại về những danh nhân xa xưa.
Vũng Chùa – Đảo Yến nhìn từ xa

Dưới chân Hoành Sơn Quan, thôn Minh Sơn đựng trong lòng một loạt di tích người xưa để lại, trong đó đặc biệt linh thiêng là đền thờ mẫu Liễu Hạnh Công Chúa, ngôi đền nhỏ dưới bóng dáng núi non trùng điệp đã có hơn 500 năm hiển linh, được người đời không chỉ trong vùng mà ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa…vào viếng hương hằng niên.
Thêm chú thích
Những ngọn núi chạy dài phía thôn Minh Sơn cắt mảnh đất này thành nhiều thung lũng khác nhau, tạo ra các hòn đảo nhỏ như Hòn La, Mũi Ông, Hòn Cỏ, Đảo Yến, Đảo Chim, Hòn Nồm, Hòn Bớc…



Nhưng có một địa danh mà theo người dân địa phương là rất thiêng, chỉ dành cho bậc khai quốc, hoặc hiển đạt khoa bảng mới có thể an nghĩ vĩnh hằng để hộ vệ quốc gia cho con cháu ngàn đời thanh bình. Người trần mất mắt thịt, không thể an táng ở đây.

Địa danh ấy, không hề tìm thấy trên bản đồ của Google, không thể có trên trang thông tin của cổ máy tìm kiếm này. Trong các di cảo của người xưa viết về Đèo Ngang, cũng như địa chí Quảng Bình từ mấy trăm năm nay, địa danh ấy không hề biết đến. Nhưng người dân địa phương chỉ những bậc cao niên tinh ý mới biết đó là nơi chốn xứng tầm cho người có công trạng lớn với quê hương. Ấy là Mũi Rồng.



Mũi Rồng thiên thu

Một kỹ sư, nhà khoa học đã nghỉ hưu, nhà phong thủy địa phương dẫn chúng tôi đi thăm đất Mũi Rồng. Một con lộ nhỏ xấu xí dẫn vào một con đường cấp phối đặc trưng ở Đèo Ngang, khá rộng, nền đường lót đầy vỏ thu hoạch tràm của người trồng rừng bên sườn núi. Đường điện và con đường ấy đã khởi công mấy năm trước, người dân nói là khoảng từ năm 2004-2006. Khu đất đó rộng hơn 15ha, và được con trai của Đại tướng, anh Võ Điện Biên làm một khu tâm linh trong đó. Đất đã được làm các thủ tục cần thiết từ nhiều năm trước.


Con đường đi đến gần mép biển đã dừng lại, một tấm biên ghi chú: “Khu vực dự án, không phận sự miễn vào”. Một lối mòn nhỏ khác dẫn ra hướng Mũi Rồng. Chúng tôi cùng nhà phong thủy lội bộ trên con đường mòn sau bão, nước mưa còn đọng chặt vào đường, có nơi bùn đầy chân, có nơi đá lởm khởm. Nhưng cảnh trí thật điền viên, thảo dã.


Hơn 30 phút lội bộ, chúng tôi vỡ òa với khu đất Mũi Rồng hiện ra giữa chiều thu bãng lãng. Một tháp chuông trong khuôn viên theo phong cách thờ tự đã được dựng lên. Trên đó có in tên của phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng gia đình cung tiến. Bốn chữ lớn đúc vào chuông: “Vũng Chùa Hồng Chung”, các bức khánh khắc thơ của nhiều sư tổ danh tiếng. Năm đúc chuông hoàn thành vào 2010.


Từ gác chuông này, nhìn về phía đông nam là một phần của biển Đông, phóng tầm mắt ra xa hơn là Đảo Yến án ngữ, sau lưng là núi Mũi Rồng hùng vĩ. Vị phong thủy trước khi đi vào đây nói với chúng tôi, bình đồ ở đây là dương 2,5m, cao hơn 90m ở đỉnh, nhưng nếu là vĩ nhân đã chọn, người trần mắt thịt sẽ không biết, bình độ đẹp nhất không lấy điểm cao nhất và lấy trên vùng lưng chừng núi, không vượt con số trực 9 mà là 8,7, đó là địa thế lý tưởng, đắc địa.


Dưới núi Mũi Rồng là thung lũng Rồng hết sức nên thơ, ở giữa núi Mũi Rồng cao sừng sừng, hai bên chạy theo hướng vòng cung đông nam, địa hướng lý tưởng, không lệch bất cứ một phút, một giây nào khi đưa la bàn ra kiểm chứng.

Bất ngờ chúng tôi đang mãi ngắm vùng Mũi Rồng độc đáo thì một ngư ông râu bạc, tóc dài đội chiếc nón cời xuất hiện, dừng lại một lát ông trò chuyện với chúng tôi rằng, đây là đất hiếm, nơi này chỉ có hai ngôi mộ của lương dân trong vùng, nhưng đó là mộ của người công thành với làng, được làng đưa ra đặt dưới chân núi, không đưa lên lưng chừng vì đó còn chờ một thánh nhân khác. Chúng tôi xin ông một kiểu hình, nhưng ông không đồng ý rồi đi ra phía bãi biển. Lát sau không thấy bóng dáng ông ấy đâu.


Chuyên gia phong thủy đi theo chúng tôi giải thích, mạch đất ở đây cực kỳ đẹp, không thể có nơi thứ hai khi hướng đông nam chính trực tuyệt đối, ông nhẩm tính từng đốt ngón tay, nói những câu trong lý dịch, và nói; chắc chắn sẽ có một người công trạng lớn về trấn giữ vùng đất này.


Theo ông, nếu được thế, không chỉ là phúc cho mảnh đất Quảng Đông mà con phúc cho cả nước vì ở đây, sẽ là mạch tụ khí, tụ linh còn hộ vệ quốc gia trước nhiều bất trắc và tai ương khó lường. Ông giải thích thêm, người dân nói Mũi Rồng quá chuẩn, nhìn lên ngọn núi chính diện trung tâm, đỉnh của nó như cái mào rồng, thẳng trục đông nam, biển giữa bãi Rồng với Đảo Yến kín gió, thanh bình, đất này quá thiêng, long mạch rất đẹp.

Giữa thung lũng Rồng, chúng tôi thấy có đến 3 con suối chảy về phía biển, chia đều thung lũng thành ba gian rất đẹp. Người dân cho biết, trong 3 con suối này, có một con suối được xem là suối chính, mùa hè hạn hán nặng vẫn không hề hết nước, mặc dù vùng đất Quảng Đông vào mùa hạ khá khó khăn vấn đề này.
Cỏ lau đã mọc um tùm, dưới chái của mái chuông là một cái miếu nhỏ cổ kính đã được dựng lên từ mấy năm trước. Một nhà thờ khá lớn lợp ngói đỏ cũng đã được dựng lên, nội thất phía trong chỉ mấy bộ bàn ghế. Chách về phía sau là một ngôi nhà sàn bị tốc mái do bão.


Ông Ngô Văn Cảnh ở thôn Minh Sơn nói với chúng tôi: “Đảo Yến nhiều năm trước vắng chim yến, nhưng hai năm nay chim yến về rất nhiều, điềm lành”, nó như hồng phúc địa phương, vị phong thủy nháy mắt.

Bãi biển trước mũi rồng là một cấu tạo địa chất của đá khác hẳn các bãi biển khác, những thớ đá xếp lên nhau như những chiếc vảy của con rồng đang ngơi nghỉ, hằng vạn hằng vạn những chiếc vảy ấy được sóng biển gột rữa mỗi ngày nên chúng sáng láng vô cùng.


Theo một chiếc thuyền ra Đảo Yến, trên đó có một ngôi nhà của mấy người giữ yến, một thung lũng cỏ lau trắng khiết, một ngôi mộ cổ của ai đó từ xưa còn lại. Trên đảo có một cái giếng cổ, mạch nước ngọt duy nhất có ở bức bình phong của Mũi Rồng.



Nếu có người anh hùng yên nghĩ nơi đây thì Mũi Rồng là nơi linh thiêng của đất, trời, nơi sót lại cuối cùng chưa đưa vào dư địa chí, nơi thảo dã cho người anh hùng thanh thản thiên thu.


Quốc  Nam

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Đạo diễn Trần Văn Thủy


Đạo diễn Trần Văn Thủy
                    

                    Tôi biết đến đạo diễn này khi lọ mọ, lén lút đi xem cho bằng được bộ phim “ Chuyện Tử Tế” năm nào do một doanh nghiệp chiếu bằng đầu video đa hệ lần đầu tiên có được ở Việt Nam. Sau này mới tìm xem thêm phim “ Hà Nội trong mắt ai”. Nói về phim với đề tài chiến tranh thì khỏi phải bàn, bới vì những người đạo diễn thường là ở chiến trường hoặc sống trong hoàn cảnh chiến tranh nên họ đầy cảm xúc để có phim hay. Còn phim về đề tài xã hội sau năm 1975, nói thật tôi chỉ nhớ đến 2 phim trên. Vì vậy tôi muốn chuyển tải bài viết của Hồ Hương Giang về cuốn sách “ Chuyện nghề của Thủy” như  tự cho mình là FAN hôm mộ ông.

"Chuyện nghề của Thủy" - Tác giả Lê Thanh Dũng và Trần Văn Thủy
Cuốn sách gây chú ý của đạo diễn "Chuyện tử tế"

- Nếu bạn đọc hỏi cuốn sách viết bằng tiếng Việt nào hiện đang đặc biệt gây chú ý trên thị trường, thì có lẽ đó là "Chuyện nghề của Thủy". Tác phẩm thuật lại gần 40 năm làm nghề đầy sóng gió của một trong vài đạo diễn phim tài liệu xuất sắc nhất  lịch sử điện ảnh Việt Nam.

"Tiếng vỹ cầm ở Mỹ Lai" (1999) có lẽ là bộ phim tài liệu nổi tiếng nhất của Trần Văn Thủy - vang xa tới tận bên kia bán cầu, gây chấn động và làm thức tỉnh hàng ngàn người Mỹ. Nhưng ông còn có một số bộ phim quan trọng khác mà có lẽ ít người ít biết hơn.

Vào những năm 1980, nghệ sĩ nhân dân Trần Văn Thủy đã làm 2 bộ phim tài liệu cực kì thành công là  "Hà Nội trong mắt ai" (giải vàng LHP Việt Nam 1988) và "Chuyện tử tế" (giải Bồ Câu Bạc Liên hoan phim Quốc tế Leipzig).

Như ông thuật lại trong "Chuyện nghề của Thủy", làm 2 bộ phim trên khó hơn "Tiếng vỹ cầm ở Mỹ Lai" nhiều. Vì nó là cái nhìn ngược lại nội tâm, để người Việt soi chiếu chính người Việt, để bản thân mình soi chiếu, cay đắng với chính mình trên chặng đường "muốn làm một người tử tế".

Một cảnh trong phim "Chuyện tử tế"


Chẳng thế mà "Chuyện tử tế" đã được báo chí nước ngoài gọi là “Quả bom đến từ Việt Nam nổ tung ở thành phố Leipzig (Đức)”. Nhiều người coi đây mới là tác phẩm đặc sắc nhất của đạo diễn Trần Văn Thủy. Trong đó có những lời bình cực kì đắt giá. “...Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác. Nó nặng đến nỗi một người không mang nổi. Bởi thế người đời chúng ta chừng nào còn sống hãy gắng giúp nhau để cho tâm hồn trở nên bất tử".

Nhân vật chính trong tác phẩm là người nghèo khổ, người nông dân - những người ít khi được cất lên tiếng nói, được hỏi ý kiến... trong các tác phẩm văn hóa và nghệ thuật.

Trong poster quảng cáo Liên hoan phim Brooklyn (Mỹ, 2002), khi giới thiệu về Trần Văn Thủy người ta viết: "Trần Văn Thủy một nhà làm phim được mô tả như “Francis Ford Copola của Việt nam” (Tran van Thuy a vietmamese filmmaker described as “The Francis Ford Copola of Vietnam).


 Dù Trần Văn Thủy có khiêm tốn cỡ nào, thì việc được so sánh với vị đạo diễn từng 5 lần đoạt giải Oscar, dẫn dắt bộ ba phim Bố già và Apocalypse Now cũng chứng tỏ nhận định của giới làm nghề trên trường quốc tế về vị trí của ông với điện ảnh Việt Nam.

"Năm đó tôi mới 40 tuổi. Tôi được học hành tử tế, được thử thách, đã quay phim và sống sót trong chiến trường miền Nam vô cùng ác liệt; là học trò của Roman Karmen – một đại thụ của phim tài liệu Liên Xô, một con người có những cống hiến to lớn với nhân loại trong thời kỳ chống phát xít và trong phong trào giải phóng dân tộc". - Đạo diễn/ NSND Trần Văn Thủy đã viết những lời đầu trong cuốn sách của đời mình như thế.


"Chuyện nghề của Thủy" bắt đầu thuật lại những tháng ngày khởi động những thước phim nhựa đầu tiên của cậu sinh viên tập sự, với vị trí là một phóng viên chiến trường ngang dọc dãy Trường Sơn, giữ máy, giữ phim còn hơn giữ sinh mạng của chính mình. "Đến đêm, mình đói quá, háo quá, có gạo rang trong túi phim nhưng có chết đói cũng không dám sờ vào một hạt. Đó là gạo rang để chống ẩm cho phim!"

Trần Văn Thủy đã lành lặn qua bom đạn trở về miền Bắc trong cơn sốt rét. Anh gầy như "con ma đói" đến chị ruột cũng không nhận ra, nhưng toàn bộ số phim đã được bảo quản an toàn dù cũng đã lăn lộn cùng anh dưới nước, trong hầm trú ẩn...

Bộ phim tài liệu đầu tiên của phóng viên chiến trường Trần Văn Thủy với những thước phim quay ở chiến trường Quảng Đà đã đoạt giải Bồ Câu Bạc - Liên hoan phim Quốc tế Leipzig (Đức), năm 1970.

Trong cuộc đời, Trần Văn Thủy có lẽ đã không làm quá nhiều phim, nhưng lại có rất nhiều phim đoạt giải cao trong nước và quốc tế. Ông làm phim cẩn thận, cầu toàn, theo đuổi vấn đề thời sự, nói những điều chưa ai nói. Có lẽ đó là lý do mà "Phản bội" - bộ phim tài liệu hiếm hoi về chiến tranh biên giới năm 1979 tiếp sau đó giành giải vàng LHP Việt Nam 1980.



 Suốt quãng đường làm nghề thời chiến tranh đến hòa bình, ông đã được gặp và nhận được sự ủng hộ của nhiều chính khách quan trọng ở Việt Nam, như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Trung tướng Trần Độ... Ông đã được gặp hàng nghìn người yêu nước và bạn bè quốc tế giúp đỡ hết lòng; cũng như những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua để mang phim của mình cho công chúng.

Một câu chuyện chân thực về chiến tranh của phóng viên chiến trường Việt Nam. Một câu chuyện cảm động về người làm phim ở Việt Nam. Một sản phẩm tốt nữa của Nguyễn Văn Thủy - lần này là sách - dâng tặng cuộc đời.


Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trần Văn Thủy là một đạo diễn phim Việt Nam, sinh năm 1940 tại Nam Định. Trong chiến tranh Việt Nam ông làm phóng viên chiến trường. Ông đã đạo diễn trên 20 phim, trong đó có nhiều phim tài liệu đoạt giải cao trong các liên hoan phim. Ông đã được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Không thể và có thể sám hối

Một bài viết hay về nhiếp ảnh Việt Nam của anh Lê Thiết Cương trên báo " Tia Sáng
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=6202

Lê Thiết Cương




Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc năm 1954, rồi kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Tiếp theo là 10 năm hậu chiến với những hệ lụy tất yếu. Vết thương chiến tranh đau nhức không chỉ thể xác mà cả tinh thần, không chỉ đối với những thân phận cá nhân mà toàn xã hội, rồi chiến tranh biên giới và bao trùm lên là nghèo đói. Rồi đến thời Đổi mới từ 1986 đến nay, giàu vật chất được một bước thì văn hóa lại nghèo đi bên cạnh đó là những được mất của “mở cửa”, của hội nhập v.v..

Một đất nước ăm ắp câu chuyện như vậy, một phân đoạn lịch sử đặc biệt như vậy, quá nhiều bi kịch và hài kịch, nhiều nụ cười và nước mắt, nhiều gặp gỡ chia ly, nhiều giận hờn, nhiều oan trái, tang thương, nhiều vô nghĩa, nhiều tấm lòng, nhiều tê buốt và đau đớn. Thế mà cái hiện thực phong phú ấy lại không được lưu giữ. Thế mà lịch sử ấy lại không được chép lại bằng hình ảnh, bằng nhiếp ảnh thì quả thực là có lỗi, là phí phạm, là một điều không thể sám hối (*) của các nhà nhiếp ảnh Việt Nam.

Ngược lại, chiến tranh Việt Nam là một “thánh địa” của những phóng viên ảnh của các hãng thông tấn hàng đầu thế giới. Quá nhiều người đã sống ở đây, chết ở đây, thành danh ở đây, gây dựng sự nghiệp cầm máy ở đây. Có thể kể ra những tên tuổi như: Larry Burrows, Henri Huet, Malcolm Browne, Ishikawa Bunyo, Eddie Adams, Horst Faas, Griffiths, Tim Page’, Daniel Riffe… 

Thời hòa bình cũng vậy, Việt Nam luôn hấp dẫn những tay máy nước ngoài (tất nhiên không phải vì phong cảnh đẹp) như: Eva Lindskog, Mary Cross,  Ellen Kaplowitz, Nicolas Cornet… Họ cần mẫn ghi chép, hoàn toàn trung thực từng chuyển động của đời sống.
Gần đây nhất, Justin Maxon với bức hình đoạt giải nhất thể loại Cuộc sống hằng ngày của World Press Photo năm 2007. Bức hình chụp một nhân vật bị HIV ở ngay bãi giữa sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội.

Nói thế để thấy, không phải rằng hiện thực hôm nay ở Việt Nam không có những đề tài lớn cho nhiếp ảnh báo chí. Chỉ có điều những người cầm máy Việt Nam có nhìn thấy hay không mà thôi. Chỉ có nhiếp ảnh mới có thể làm được điều kỳ diệu là biến những khoảnh khắc bình thường đang diễn ra hàng ngày xung quanh chúng ta trở nên khác thường và đặc biệt. 

Bản chất của nhiếp ảnh là trung thực. Đời sống thì biến động, những sự kiện đó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc với sự chuyển dịch và thay đổi chóng mặt, không bao giờ lặp lại. Chụp đồng nghĩa là nắm bắt và lưu giữ, điều mà chỉ có nhiếp ảnh mới làm được, làm được hay nhất, không có bất kể một loại hình nào làm thay được. Nhiếp ảnh không phải là văn học, là tiểu thuyết, là thơ, là phim truyện, là hội họa. Người ta có thể viết một vở kịch về cuộc kháng chiến chống Pháp sau đây 100 năm hoặc sau đây 1000 năm người ta vẫn có thể vẽ một bức tranh về ngày 30/4/1975, lúc 11h30 phút khi chiếc xe tăng T54 lao vào trong sân Dinh Độc Lập, ví dụ như vậy nhưng nếu người chụp để lỡ thì ngay ngày hôm sau, thậm chí một giờ sau cũng không thể chụp được nữa, vĩnh viễn không chụp được nữa. Ấy thế mà cả một giai đoạn lịch sử đã bị bỏ lỡ.

Mấy chục năm đã qua đi, đã có nhiều triển lãm ảnh, nhiều sách ảnh của phóng viên ảnh và nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam được phát hành nhưng có quá ít những bức ảnh xứng đáng được gọi là ảnh. Phần lớn đều nhạt nhẽo, nguội lạnh, thậm chí là chụp lại, sắp đặt để chụp, nào là hành quân ra trận, luyện tập sẵn sàng chiến đấu, dân công tải đạn, giờ nghỉ giữa hai trận đánh, ăn mừng chiến thắng, dẫn giải tù binh. Trong khi những khoảnh khắc nóng nhất, sinh tử nhất của chiến tranh thì lại không chụp. Chưa kể một bệnh nữa, rất nặng của nhiếp ảnh chiến tranh Việt Nam đó là bệnh văn học hóa, thơ hóa nhiếp ảnh. Căn bệnh này cũng đã tàn sát toàn bộ nhiếp ảnh chiến tranh Việt Nam.

Thời chiến tranh đã vậy, thời hòa bình xây dựng đất nước cũng thế. Năm 2006 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức triển lãm Thời bao cấp. Cả một triển lãm đồ sộ, kỳ công như vậy cũng chỉ có chừng độ mươi bức chụp cảnh mậu dịch quốc doanh, bến tàu bến xe, xếp hàng đong gạo… rất sơ sài. Lỗi không phải của bảo tàng mà bởi làm gì có ảnh để trưng bày. 

Chỉ có hai loại nhiếp ảnh: một là nhiếp ảnh báo chí, hai là nhiếp ảnh nghệ thuật. Hay nói cách khác chỉ nên có một loại nhiếp ảnh. Đó là ảnh báo chí, ảnh là phải có thông tin, thông điệp, phải trung thực, phải lưu giữ được những khoảnh khắc của cuộc sống. Dứt khoát ảnh phải là một con mắt khác để giúp người xem nhìn thấy được bộ mặt của đời sống. Chỉ ảnh báo chí mới có thông tin, có tính thời sự, nóng hổi nhưng lại tồn tại được mãi. Tôi muốn rằng ảnh chính là những khoảnh khắc vừa thời sự vừa vĩnh cửu, nói cách khác 1/125 giây cũng bằng nhiều nghìn năm. Các loại ảnh còn lại trong đó có ảnh nghệ thuật nên coi là ứng dụng của nhiếp ảnh. Tương tự như mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng vậy.

Maika 


Sự kiện bộ ảnh The pink choice của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Thanh Hải (Maika Elan) đoạt giải nhất thể loại Vấn đề đương đại của cuộc thi World Press Photo 2012 là một bất ngờ, một “quả bom”...
Trở lại câu chuyện chính: một đất nước có nhiều sự kiện, nhiều biến động như thế, nhiều người chụp như thế mà không hiểu sao nhiếp ảnh báo chí lại không phát triển trong khi ngược lại, nhiếp ảnh nghệ thuật lại phát triển vượt bậc. Có lẽ không có cuộc thi nhiếp ảnh nghệ thuật nào trên thế giới mà các tay máy của Việt Nam bỏ sót. Họ nhiệt tình tham gia và luôn ẵm giải cao, nghe nói có người còn đoạt được mấy trăm giải thưởng quốc tế. Chắc chỉ có mỗi Việt Nam mới dùng khái niệm nghệ sỹ nhiếp ảnh. Trong khi đáng lý chỉ là người chụp ảnh. Đã đến lúc nên bỏ Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh, thay bằng Hội Những người chụp ảnh. Hoặc giữ nguyên Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh như hiện nay dành cho những người chụp ảnh nghệ thuật, những người làm nhiếp ảnh ứng dụng như (ảnh viện đám cưới, ảnh nude, ảnh quảng cáo, CT scanner, X-quang, siêu âm…). Còn lại những người chụp báo chí nên lập hội riêng hoặc là một chi hội của Hội Nhà báo. 


Ảnh nghệ thuật cũng tốt, cũng đáng được tôn vinh, tôn trọng, cũng cần cho đời sống nhưng đừng coi nhiếp ảnh chỉ là ảnh nghệ thuật. Để trang trí phòng ngủ, phòng khách hoặc quán xá thì người ta rất cần mấy tấm ảnh phong cảnh hoa mận trắng Bắc Hà, hoa cải vàng Mộc Châu, hoặc mấy cô gái tươi cười đứng bên cây lộc vừng hồ Hoàn Kiếm chứ không ai mua tấm ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan đang dí súng vào thái dương một chiến sĩ biệt động trên đường phố Sài Gòn năm 1968 của phóng viên AP Eddie Adams về treo cả. Nhấn mạnh thêm bằng ví dụ đó để thấy nhiếp ảnh nghệ thuật cũng cần thiết và có đất sống của nó.

Tình hình đã sáng hơn khi từ năm 2006 bắt đầu có giải thưởng ảnh báo chí “Khoảnh khắc vàng” do Thông tấn xã Việt Nam phối hợp cùng Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức thường niên và các báo như Tuổi Trẻ, Sài Gòn Tiếp Thị đã có trang nhiếp ảnh phóng sự hàng tuần. Những người chụp trẻ chuyên ảnh báo chí ngày một nhiều như: Trần Việt Đức, Lê Anh Tuấn, Xuân Trường, Việt Thanh, Đoàn Đạt, Phan Quang, Doãn Khởi, Lê Quang Nhật, Hoài Linh, Việt Dũng, Na Sơn…

Những người chụp ảnh báo chí, những người tôn trọng nhiếp ảnh báo chí tuy không ai nói ra nhưng tất cả đều thầm khao khát một ngày nào đó, sẽ có một người Việt được giải của World Press Photo. Bởi vì World Press Photo là một giải thưởng quan trọng nhất, uy tín nhất, chuyên nghiệp nhất, khắt khe nhất. World Press Photo không phải một trong những mà là giải lớn nhất, duy nhất. Không thể có giải thưởng nào so sánh được với World Press Photo. Giống như giải Nobel của Văn chương và Khoa học, giải Pritzker của Kiến trúc, giải Fields của Toán học.

Cho nên sự kiện bộ ảnh The pink choice của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Thanh Hải (Maika Elan) đoạt giải nhất thể loại Vấn đề đương đại của cuộc thi World Press Photo 2012 là một bất ngờ, một “quả bom”, một vinh dự không chỉ của tác giả mà còn cho toàn bộ nền nhiếp ảnh báo chí Việt Nam. Đây có thể gọi là một sự kiện then chốt tạo ra bước ngoặt vô cùng quan trọng để thúc đẩy nền nhiếp ảnh báo chí, là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam hiện đại. The pink choice là một dự án nhiếp ảnh chụp về cuộc sống của những cặp đôi đồng tính, một đề tài không dễ tiếp cận trong bối cảnh xã hội vẫn còn nhiều nghi kị và chưa cởi mở, đó là khó khăn thứ nhất. Khó khăn thứ hai, dự án ảnh khác hẳn với ảnh đơn. “Dự án ảnh như là một cuốn tiểu thuyết mà mỗi dòng đều hướng đến mục đích cuối cùng” (Peter Bialobrzeski). Tôi rất tôn trọng thể loại ảnh đơn nhưng nói gì thì nói trong một tác phẩm ảnh đơn vẫn có yếu tố may mắn lấy ví dụ bức ảnh Em bé napalm. Chắc chắn rằng Nick Út trước khi ôm máy ra khỏi văn phòng không thể biết được rằng hôm nay mình đi đến vùng Trảng Bàng (Tây Ninh) để chụp cảnh em bé bị bom napalm. Ngược lại, với thể loại ảnh dự án, người chụp phải nghiên cứu chọn lựa đề tài, tức là có chủ định chứ không phải là tình cờ, ngẫu nhiên, may rủi. Với dự án ảnh The pink choice như chia sẻ của Maika, chị đã bắt đầu từ tháng 7/2011 đến tháng 3/2012 bằng cách ăn ở cùng với các cặp đôi đồng tính trong suốt một năm rưỡi để bắt lấy những khoảnh khắc tự nhiên nhất của các đôi khi họ thể hiện tình cảm cũng như sinh hoạt trong đời sống thường ngày. 

Khoảng trống không gì có thể lấp đầy được trong cuốn sử bằng ảnh giai đoạn trước là một mất mát không thể sám hối. Cách sám hối duy nhất, nếu có thể làm, đấy chính là những người chụp thế hệ hiện nay, như Maika, phải trở về đúng bản chất của nhiếp ảnh. Đó là nhiếp ảnh báo chí. 


Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Những chuyện đằng sau bộ ảnh đoạt giải Ảnh Báo chí Thế giới


Tôi mê ảnh báo chí bởi ngoài một đặc tính quan trọng trong kỹ thuật chụp ảnh là khoảnh khắc mà nó còn nói lên được những câu chuyện của cuộc đời sau mỗi bức ảnh. Vì vậy, tôi thích sự kiện Tác giả Maika Elan  đoạt giải ảnh báo chí thế giới 2013 trong nhóm đề tài đương đại. Đây là sự ghi nhận lớn nhất của worldpressphoto - một tổ chức nhiếp ảnh báo chí lớn nhất thế giới- đối với cá nhân tác giả cũng như minh chứng nền nhiếp ảnh Việt Nam đã bắt đầu bắt nhịp kịp nhịp sống chung của thế giới.
 http://www.worldpressphoto.org/awards/2013/contemporary-issues/maika-elan?gallery=6096&category=51
Tôi thích và chia sẻ bài viết của bạn Hiền Hương.

(Dân trí)- “Sáng hôm ấy tôi đến nhà Ngân và Tsabelle. Lúc đó, tôi chưa chuẩn bị gì. Ngân trêu cô bạn, “Hôm nay chụp hình mà mặc đồ lót kỳ thế!”. Tsabelle rất đẹp. Họ đã cưới nhau được 3 năm…”- Tác giả Maika Elan kể chuyện những buổi chụp hình đáng nhớ.
Trong một năm rưỡi theo đuổi, Maika Elan (Nguyễn Thanh Hải) đã chụp 72 cặp đôi đồng tính. Số cặp đôi đồng tính cô đã gặp gỡ, trò chuyện và làm việc nhiều hơn thế.

Maika chia sẻ, trong khoảng thời gian một năm rưỡi ấy, có những tuần “thuận buồm xuôi gió” cô có thể chụp cuộc sống của 2-3 cặp đôi. Lại có những tháng chẳng chụp được gì.

Trong số những bức ảnh đã chọn lựa làm triển lãm The Pink Choice, có những bức ảnh là “First shot” (ảnh chụp đầu tiên), có những bức là “Last shot” (bức ảnh chụp cuối cùng). Nhưng tất cả đều là những bức ảnh Maika yêu thích. Không có bức ảnh thích nhất. Không có cặp đôi ấn tượng nhất. Mỗi cặp đôi là một câu chuyện riêng khác biệt.

Ấn tượng của người chụp về mỗi cặp đôi có khi nằm ở cuộc trò chuyện, có khi là chuyến đi chơi… chẳng liên quan gì đến buổi chụp hình.
Bộ ảnh 12 ảnh gửi dự thi Ảnh Báo chí Thế giới và đoạt giải nhất ở thể loạiNhững vấn đề đương đại, là 12 khoảnh khắc, 12 câu chuyện với sắc màu, ấn tượng khác nhau.
Maika vẫn nhớ rõ từng buổi chụp hình.

Bức ảnh này được chụp vào buổi sáng. Maika kể lại, vào ngày hôm đó cô có lịch hẹn chụp ảnh với Ngân và Tsabelle. Maika đến từ rất sớm. Trong khi Maika đang chuẩn bị đồ nghề, 2 bạn Ngân và Tsabelle ngồi trêu đùa nhau. Ngân nói với Tsabelle "Hôm nay chụp hình mà mặc đồ lót kỳ thế". Tsabelle rất đẹp. Hai cô gái đã cưới nhau được 3 năm dưới sự cho phép của gia đình hai bên. Lễ cưới chỉ là một bữa tiệc nhỏ với người thân 2 gia đình. Nhìn ngắm khoảnh khắc đôi trẻ trêu đùa nhau, Maika đã "chớp" lấy. Đây là "First shot"- bức ảnh chụp đầu tiên. Suốt cả  ngày hôm đó, Maika đã chụp thêm rất nhiều bức ảnh đẹp khác của Ngân và Tsabelle. Nhưng khi chọn ảnh làm triển lãm và gửi dự thi Ảnh Báo chí Thế giới, Maika đã chọn bức hình này. 
Đây lại là một "Last shot"- bức hình chụp cuối cùng. Sau cả một ngày chụp ảnh cùng Phan Thị Thụy Vy và Đặng Thị Bích Bảy, cả Maika và hai cô gái đã thấm mệt. Lúc này đã về chiều, hai cô gái mệt nhoài nằm nghỉ ngơi. Vào khoảnh khắc này, Maika đã bấm thêm một "shot" ảnh cuối cùng. Và "shot" hình cuối cùng đã trở thành bức hình ưng ý nhất của nhiếp ảnh gia trẻ- Maika sau một ngày làm việc. 
Bức ảnh này được chụp vào sáng sớm. Trước ngày chụp ảnh, Đoàn Hữu Diệu và Nguyễn Trọng Hiếu (trong ảnh) đã cùng Maika và những người bạn của họ đi dã ngoại. Sau khi trở về, họ cùng nghỉ ngơi tại đây. Sáng tinh mơ, Maika đã vào phòng ngủ của họ. Khi đó, Hữu Diệu và Trọng Hiếu còn chưa ngủ dậy. Khi họ thức giấc, Maika đã bấm liên tiếp nhiều shot hình. Maika chia sẻ, khi chụp bức ảnh này cô chỉ chú ý đến bức màn với những họa tiết đẹp, cô không chú ý lắm đến hành động của hai người đàn ông. Khi biên tập ảnh để chọn ra triển lãm, những người bạn của Maika đã rất thích "shot" hình này. Hành động của hai người đàn ông trong bức màn khi họ vừa tỉnh dậy rất giống nhau. Sự tương đồng, giống nhau giữa những người đồng tính chính là một trong những yếu tố giúp họ nhận ra nhau và đến với nhau. 



Khi xem bức hình này, nhiều người đặt câu hỏi "Tại sao nhiếp ảnh gia lại lọt được vào phòng ngủ của cặp đôi này?", "Tại sao cặp đôi Hạnh và Hải lại có thể làm... "chuyện ấy" trước mặt nhiếp ảnh gia?", Maika cho biết "Việc này không có gì ghê gớm cả. Tùy vào tính cách của từng cặp đôi. Có những cặp đôi cá tính rất mạnh. Họ hỏi luôn nhiếp ảnh gia, có thể chụp họ không mặc gì trong phòng ngủ không. Mình chưa kịp phản ứng gì, quay lại, đã thấy họ chẳng mặc gì rồi... Họ quan điểm đơn giản rằng, họ yêu nhau bấy lâu, chẳng bao giờ dám chụp ảnh thân mật, chẳng ai chụp ảnh cho họ. Tự nhiên có người đến tận nhà chụp ảnh cho, họ phải tranh thủ chụp những bức đẹp nhất để kỷ niệm tình yêu của họ. Thế nên, họ rất tự nhiên và thoải mái". Hỏi cảm giác của nhiếp ảnh gia khi chụp ảnh phòng ngủ như thế này, Maika trả lời "Tôi chỉ chụp một chút thôi. Họ cũng thể hiện mức độ thân mật vừa phải, không phải "từ đầu đến cuối" (cười). Khi chụp, tôi cũng chỉ quan tâm, ánh sáng thế nào, nhân vật ở đâu trong khuôn hình. Tôi không phân tán vào việc họ đang làm gì. Việc họ, họ làm. Việc tôi, tôi làm. Không có gì liên quan cả".




Về bức ảnh này, Maika chia sẻ, những người biên tập ảnh cho cô ở Nhật, ở Mỹ đã rất thích. Họ khen bức hình tinh tế. Ấn tượng của Maika về hai người đàn ông này, "Khi gặp nhau trò chuyện, họ rất đàn ông, phong trần, bụi phủi. Hình xăm đầy mình. Nhưng khi đến nhà của họ, tôi ngạc nhiên bởi sự nữ tính. Căn phòng rất nhiều hoa. Chăn hoa, gối hoa, đệm hoa. Nhà gọn gàng, bày biện lãng mạn, đẹp mắt". Bức hình được khen ngợi này, Maika chụp trong lúc giải lao. Hai người đàn ông lịch sự quay ra hành lang hút thuốc và trò chuyện. Họ sợ khói thuốc ảnh hưởng đến Maika. Và họ không biết, họ đã lọt vào ống kính của Maika ở khoảnh khắc này.


Khi chụp bức ảnh này, em bé (con trai với cuộc hôn nhân trước của Trịnh Hiền- đang đọc báo) rất thân thiết, quý mến Bảo Quỳnh. Cậu bé liên tục chạy đến hôn Bảo Quỳnh.

Phạm Thảo Huyền (phải) vừa tắm xong. Cả ngày Maika đã có buổi chụp hình với Thảo Huyền và cô bạn gái. Thảo Huyền là một vũ công. Cô ấy đã nhảy, người bạn gái trượt Patin. Lúc này, Huyền vừa tắm xong. Hỏi Maika, "Phải thân thiết với họ như thế nào để chụp được những bức hình riêng tư đến mức này?", Maika chỉ cười.

Đây là một trong những bức ảnh để lại ấn tượng nhiều nhất với người xem trong bộ ảnh đoạt giải Ảnh Báo chí Thế giới của Maika. Hai người đàn ông này đã sống chung với nhau hơn 8 năm. Họ cùng kinh doanh khách sạn. Bối cảnh trong bức hình là sân thượng của tòa nhà, nơi để giặt đồ. Thỉnh thoảng hai người đàn ông vẫn lên đây tắm. Maika gọi họ là bác. "Hôm ấy chúng tôi chụp đến tận trưa. Lúc này nóng quá. Hai bác nảy ra ý định, tắm một chút cho mát. Tôi thích khoảng sân thượng này của họ. Đi đến mỗi ngôi nhà, tiếp xúc với mỗi cặp đôi, tôi luôn chú ý đến khoảng không gian để làm nền cho bức ảnh. Đến nhà của hai bác Hiếu và Thắng, tôi đã thích ngay khu sân thượng này. Và đây là bức hình mà chúng tôi có được".


Hiền Hương