Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016

NHỚ CẦU GHỀNH NGÀY XƯA...


Ban đêm ở Cầu Ghềnh cũ...
Cây cầu Ghềnh mới đã chính thức thông xe và những chiếc xe lửa bắt đầu hành trình qua sông Đồng Nai trong những ngày cuối tháng 6 năm 2016 này. Nhưng tôi lại " mê" cây cầu Ghềnh củ - một cây cầu cổ gắn liền lịch sử phát triển của vùng đất Cù Lao Phố ( Biên Hòa) trên 100 năm. Rất tiếc nó đã sập. Tôi thích thú với những hành trình lang thang trên những chiếc tàu lửa lao nhanh qua cầu Ghềnh ngày xưa, cũng như cầu Ghềnh ngày nay....

Cầu Ghềnh có từ hơn 100 năm trước đã tạo thành dấu ấn đặc biệt cho mảnh đất lịch sử Biên Hòa, Đồng Nai. Từ khi cầu Ghềnh đi vào hoạt động, tuyến đường sắt đã được thông tuyến với tuyến Sài Gòn - Nha Trang . Cầu Ghềnh dài 223,3m, có kiểu kiến trúc Gothic trang nhã bằng thép rất kiên cố. Trên cây cầu ngoài tuyến đường bộ, đường dành cho xe cơ giới còn có tuyến đường sắt Bắc - Nam. Nhiều tư liệu nói rằng kiến trúc sư Eiffel có 3 công trình kiến trúc cầu ở Việt Nam: Cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Tràng Tiền (Huế) và cầu Ghềnh (Biên Hòa).

Lúc cầu Ghềnh còn là nơi di chuyển xe lửa và xe các loai


Xe lửa qua Cầu Ghềnh cũ




Cầu Ghềnh cũ trong mưa

Những khi đứng nhìn cây cầu 100 năm tuổi phải oằn mình xuống khi sức nặng của những con tàu, dòng xe cộ qua lại trên sông Đồng Nai mới thương cảm cho Cầu Ghềnh. Nhưng khi hoàng hôn xuống Cầu Ghềnh quả là một tuyệt tác cho một bức ảnh đẹp.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

Nude, góc nhìn đa chiều “CON MẮT ĐEN NHƯNG LUÔN KIẾM TÌM NHỮNG ĐIỂM SÁNG”

Simon và Perot - Tranh sơn dầu của Rubens

Nude, góc nhìn đa chiều

“CON MẮT ĐEN NHƯNG LUÔN KIẾM TÌM NHỮNG ĐIỂM SÁNG”


Nguyễn Thành


     Kể từ khi xuất hiện hội họa và sau này là nhiếp ảnh, nude luôn là một đề tài gợi lên sự tranh cãi bất tận. Có vô số luận giải khác nhau về nude, về ranh giới giữa nghệ thuật và dung tục, về khác biệt giữa cảm hứng thăng hoa và nhu cầu mang tính bản năng của con người. Có những sự đánh giá khác nhau. Liệu nude có phải là một phát hiện về những vẻ đẹp của thế giới hay không? Sự khêu gợi tồn tại ở một ý nghĩa khác của sự sáng tạo. Nhưng mỗi thực thể chúng tồn tại như một thứ nghệ thuật trần trụi, nhờ đó mà nó tạo ra sự thú vị một cách bí hiểm, và tình yêu tồn tại trên những khoảng không mung lung đó. Phải chăng “sự dung tục”, một thành tố mà nhiếp ảnh luôn luôn tìm kiếm, như là tìm kiếm vẻ đẹp của nghệ thuật?

     Khi sinh ra, con người ai cũng giống ai. Họ chào đời với không một thứ che đậy trên thân. Sự tiến bộ của xã hội loài người làm ra quần áo không chỉ nhằm mục đích giữ ấm mà càng ngày càng thiên về phục vụ nhu cầu thời trang và thẩm mỹ. Vậy điều gì khiến Nude luôn là một vấn đề gây chú ý?

     Francisco de Goya, một họa sỹ vĩ đại của Tây Ba Nha, sống vào thế kỷ 18. Người đàn ông ấy có một tình yêu lớn và ngang trái với một phụ nữ tuyệt đẹp, bà Maria Cayettana, một góa phụ kiều diễm và nổi tiếng nhất Madrit vào thời bấy giờ. Tình yêu giữa họ bùng cháy và để lại một kiệt tác nghệ thuật bất diệt: “Bức họa Maja khỏa thân”. Tuy nhiên, một thế lực không nhỏ ra tay ngăn cản mối tình chênh lệch về đẳng cấp ấy. Maria bị đi đầy. Còn Goya đối mặt với tòa án của giáo hội với lời buộc tội làm băng hoại đạo đức và mang trái tim tội lỗi của quỷ dữ.

     Trước tòa Goya đã biện hộ: “Vẻ đẹp của người đàn bà là một kiệt tác của tạo hóa, chỉ những ai nhìn vẻ đẹp ấy với tâm hồn tội lỗi mới là kẻ mang trái tim của quỷ satan”. Vì không vị quan tòa nào muốn thừa nhận rằng mình ngắm nhìn bức họa Maja khỏa thân với những ý nghĩ đen tối nên thống nhất rằng đó là một bức họa tôn vinh cái đẹp. Ở đây cũng phải nói bức họa vẽ nàng Maja khỏa thân của  Goya nằm trễ nải đợi người tình không phải không có chút gợi tình. Nhưng mọi vẻ đẹp khỏa thân, trước hết bao giờ cũng là những sự cuốn hút được xây dựng trên nền tảng của bản năng con người, nghĩa là những cảm xúc về giới tính. 

Bức họa Maja khỏa thân của Francisco de Goya


Nude of Martin Zurmühle - Thụy Sĩ 1

Góc độ - NGƯỜI SÁNG TÁC                            

     Vẻ đẹp của cơ thể con người từ rất lâu luôn là một đề tài “hot” trong lĩnh vực nhiếp ảnh. Hầu như tất cả các nhiếp ảnh gia trong đời đều mong muốn ít nhất được một lần ngắm nhìn và thể hiện vẻ đẹp ấy. Nude là một phạm trù phức tạp, vừa cụ thể vừa trừu tượng. Ranh giới giữa nude nghệ thuật và sự dung tục rất mong manh. Cùng một bức ảnh nhưng có người cho rằng dung tục, có người lại cho rằng là nghệ thuật. Dung tục hay nghệ thuật đôi lúc phụ thuộc vào cái nhìn. Thực tế ở trên đời người ta có con mắt đen nhưng luôn tìm kiếm những điểm sáng.

     Có những người theo trường phái Duy mỹ (là khuynh hướng độc tôn cái đẹp cảm thụ bằng thị giác). Đó là một trào lưu mang tính phổ biến, chuộng về hình thức bề ngoài mà ít quan tâm tới chất và tính trạng của vật. "Duy mĩ" và "chủ nghĩa hình thức" thường tồn tại ở nhiều người, nhất là trong sáng tác ảnh nude. Ở Việt Nam, những nhà nhiếp ảnh xuất thân từ họa sỹ, hay có quan hệ nhiều tới lĩnh vực hội họa thường tiếp cận thành công và dễ dàng hơn với nghệ thuật nude. Bởi họ là những người được học mỹ học, sáng tác phụ thuộc nhiều vào ý tưởng.  Còn các nhà nhiếp ảnh phụ thuộc nhiều vào hiện thực, vào đối tượng trước ống kính, hơn nữa hiện nay ta chưa chính thức hóa về ảnh nude nên chưa có một sự đào tạo thực sự. Phần nhiều những nhà nhiếp VN chưa tốt nghiệp đại học (nhất là đại học chuyên ngành), bởi thế nên kiến thức về Mỹ học nhiếp ảnh rất khiêm tốn, dẫn đến tình trạng là bắt trước chụp nude chứ chưa phải là sáng tác ảnh nude nghệ thuật! 


Nude of Martin Zurmühle - Thụy Sĩ 3 4 


Nude of Martin Zurmühle - Thụy Sĩ 3 5

Góc độ CÁ TÍNH

     Hội ngộ trên bước đường đi tìm cái đẹp nghệ thuật, nhưng tính duy mỹ ở mỗi tác giả lại có những nét riêng, tạo nên cá tính. Như vậy người sáng tác trước hết phải có ý tưởng giống như một thứ triết lý của riêng mình để xây dựng hình tượng chứ không phải xây dựng hình ảnh. Đây là hai khuynh hướng khác nhau: sáng tạo và bắt chước. Để xây dựng hình ảnh người ta mặc sức thể hiện một cách trần trụi như nó vốn có. Bởi thế khoe hình thể, quảng bá cá nhân và gợi dục là điều không tránh khỏi. Với ý định xây dựng hình tượng thì người ta thoát khỏi cái cá thể để tôn thờ biểu tượng, tôn vinh cái đẹp của tạo hóa…, cái đẹp hình thể được mặc sức phô diễn với nhiều ý tưởng khác nhau mà không gợi dục.

     Ta thử hình dung xem từ hàng vạn năm nay con người đã quen khoác trên mình một thứ trang phục che thân nào đó. Nó đã trở thành một thói quen, một thuộc tính. Cởi bỏ quần áo trước một người đã khó trước đám đông lại càng khó hơn. Nó không nằm trong phạm vi cá thể mà nó đã thuộc phạm trù văn hóa xã hội, nó như một sự phô diễn, một sự giao tiếp xã hội. Nhà nhiếp ảnh giỏi sẽ biết cách che đậy bằng ý tưởng và phong cách trình diễn của riêng mình một cách vô hình.


Nude of Martin Zurmühle - Thụy Sĩ 3

Góc độ THƯỞNG THỨC

     Đối với ảnh nude, nghệ sỹ kén chọn người mẫu, người mẫu chọn người tạo nên tác phẩm, còn tác phẩm thì chọn người thưởng thức. Có thể nói: Nghệ thuật và cái đẹp chỉ thuộc về những người đồng cảm và yêu mến nó. Cái đẹp không sinh ra từ sự mua chuộc hay cưỡng bức. Có nhiều cảm xúc khác nhau khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ảnh Nude, những cảm xúc trái ngược nhau ấy có thể bắt nguồn từ sự mâu thuẫn giữa khát khao trong tâm tưởng với sự thực diễn ra ngoài xã hội. Đối với họ, vẻ đẹp tuyệt đối khắc sâu trong tâm trí mãi mãi là vẻ đẹp của bức tranh trong khát khao với những nét đẹp của trí tưởng tượng. Như người ta nói: Lí tưởng thẩm mĩ của các nhà lãng mạn, xem vẻ đẹp tuyệt đối chỉ tồn tại trong khao khát của tâm hồn. Và toàn bộ câu chuyện cùng những điều kì lạ, bí ẩn xảy ra chung quy lại xuất phát từ "trò đùa của cảm giác".
    Thực tế về bức tranh “Cô gái trẻ để lộ bầu ngực, quần áo xộc xệch cho ông lão ngậm vú, có tên là "Simon và Perot" - Bức tranh sơn dầu của Rubens, là một ví dụ. Những người lần đầu tiên bước vào viện bảo tàng đã cảm thất kinh ngạc khi nhìn thấy bức tranh này, có người còn cười và chế nhạo. Sao có thể treo bức tranh như vậy ngay cửa chính của viện bảo tàng? Nhưng người dân nước Puerto Rico thì rất kính trọng bức tranh này, họ cảm động rơi nước mắt. Cô gái trẻ để lộ bầu ngực là con gái của ông, ông lão chính là cha cô gái. Simon trong bức tranh chính là người anh hùng đã đấu tranh đòi độc lập cho nước Puerto Rico, nhưng bị bắt giam vào ngục và bị kết tội "cấm thực". Ông già chết dần chết mòn, lúc lâm chung con gái ông vừa sinh con đến thăm cha. Nhìn thấy cơ thể suy nhược của cha, không muốn cha chết thành con ma đói. Cô đã cởi áo, đưa dòng sữa của mình cho cha bú. Cùng một bức tranh, có người cười nhạo, có người cảm động. Người không biết được câu chuyện thật sự đằng sau bức tranh sẽ chế giễu, người biết sẽ cảm thấy đau lòng.

     

 

 



Thư pháp trên cơ thể nude (Nhiếp ảnh TQ))



Đi xem triển lãm hội họa và nhiếp ảnh, có nhiều bức tranh khỏa thân. Bạn nhìn ngắm bức tranh ấy với cái nhìn nghệ thuật hay với cái nhìn dung tục? Sự vật tự nó không thay đổi, nhưng khác biệt là ở cách nhìn! Thực tế ở trên đời người ta có con mắt đen nhưng luôn tìm kiếm những điểm sáng.

      Cơ thể trần truồng có vẻ là một trạng thái rất tự nhiên của con người,… Tuy nhiên, khi đi vào nghệ thuật, đối tượng lõa thể lại có rất ít sự liên hệ đến những hoàn cảnh đời thường kể trên mà thay vào đó, sự tái hiện phơi bày cơ thể con người một cách trọn vẹn, nguyên bản lại phản ánh một tập hợp rất phức tạp những lý tưởng thuần túy, những mối quan tâm triết học và truyền thống văn hóa. Dù phương Tây tân tiến hay Á Đông Nho giáo, không thể phủ nhận rằng hình tượng lõa thể trong các sáng tác nghệ thuật vẫn là chủ đề rất nhạy cảm bùng phát những tranh cãi hay công kích từ giới phê bình nghệ thuật cũng như công chúng.

     Có hai từ “khỏa thân” (the nude) và “trần truồng” (the naked). Để phân biệt hai khái niệm này, như một tiền đề để khẳng định tính nghệ thuật vốn hay bị nhầm lẫn và phủ nhận của nghệ thuật nude. Người ta cho rằng: Trần truồng là cơ thể bị tước bỏ quần áo, mang hàm ý trong đó là nỗi hổ thẹn. Nhưng ngược lại nude lại được hiểu như là ngôn từ có văn hóa và thẩm mỹ, khỏa thân là sự khơi gợi về một cơ thể cân đối, giàu sức sống và đặc biệt là được phơi bày với sự tự tin, một cơ thể được tái tạo dưới lăng kính nghệ thuật.

     Cái yếu tố then chốt làm nên giá trị nghệ thuật đích thực của các tác phẩm với ảnh khỏa thân, dù là phô diễn một cách tượng trưng, được tỷ lệ hóa, hay phơi bày chân thật, trần trụi, dù là tôn vinh vẻ đẹp hoàn mỹ, lý tưởng, sức sống trong sáng hay là vẻ đẹp trần tục và khơi gợi những cảm xúc bản năng, nghệ thuật nude cuối cùng vẫn phải là sự tôn trọng con người, tôn trọng sự nhào nặn của tạo hóa.

Tác giả : NGUYỄN THÀNH

     Không thể nói rằng ảnh nude tuyệt đối không có tính dục và cũng không ai có thể áp đặt được cái nhìn! Vậy có nên xã hội hóa (triển lãm) ảnh nude không là một câu hỏi cần có lời giải đáp. Tỷ như dạy cách tránh thai, không có nghĩa là dạy cho thanh niên cách làm bậy an toàn, mà là dạy kỹ năng sống, dạy cách làm chủ bản thân. Y học có một quan niệm rằng “vết thương hở là vết thương dễ chữa lành”. Thế giới hiện nay là thế giới mở, nên mọi sự cấm đoán đều trở nên vô nghĩa. Bây giờ là lúc cần thiết phải được tuyên truyền giáo dục về nó. Một là để cho những nghệ sỹ nhiếp ảnh đi vào lĩnh vực này không bị ức chế, hai là thông qua đó giáo dục thẩm mỹ cho người thưởng ngoạn. Xã hội cũng như một cơ thể sống, cái gì không phù hợp, cái gì ngoại lai xâm nhập không đúng cách sẽ bị đào thải. Hơn nữa “món ăn” nào, tinh thần hay vật chất cũng cần phải được hướng dẫn sử dụng thì hiệu quả mới là tốt nhất. Để làm điều này cần có một đội ngũ tuyển chọn chuyên nghiệp, có đôi mắt sáng, có trình độ để thẩm định và bảo lưu.

     Con người luôn là đối tượng, là trung tâm diễn tả của nghệ thuật nói chung và nhiếp ảnh nói riêng. Con người luôn bí ẩn, độc đáo và đa dạng… Và chừng nào con người còn đi tìm lời giải cho câu hỏi về bản thân mình, nghệ thuật nude sẽ vẫn còn tiếp tục đồng hành với dòng chảy nghệ thuật đương thời và phá vỡ mọi giới hạn.


 




Thứ Năm, 23 tháng 6, 2016

Fan Ho - Nhiếp ảnh gia bậc thầy







FAN HO




Sinh năm 1931 ti Thượng Hi, Fan Ho sm được tiếp xúc vi máy nh t năm 13 tui, đó là mt chiếc Rolleiflex ng kính đôi được tng bi cha ông. Nhng năm tháng sau đó, nhiếp nh gia ni tiếng này chuyn ti sinh sng Hong Kong, và bt đu ghi li du n ca mình trong làng nhiếp nh vi các tác phm mang phong cách đường
ph (street life).



Approaching Shadow, 1954. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space

Afternoon Chat, 1959. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space

Fan Ho có c mt b sưu tp các bc nh ghi li cuc sng ca con người Hong Kong vào nhng năm 1950, tt c đu là hình nh đen trng. Vi nhiu tác phm t tui đôi mươi, Fan H sm nhn được s chú ý ca cng đng nhiếp nh quc tế, sau đó là nhiu cuc trin lãm và hàng trăm gii thưởng nhiếp nh ln.
Trong sut s nghip nhiếp nh ca mình, Fan Ho luôn được coi là mt nhiếp nh gia hàng đu thế gii và cũng là mt trong nhng người có nh hưởng ln nht ti làng nhiếp nh Châu Á. Nhng hình nh ca ông thường xuyên xut hin trong nhiu n phm uy tín và kênh truyn thông ln, t New York Times ti BBC.


Woks, 1964. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space

People Crossing, 1957. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space

East Meets West, 1963. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space
As Evening Hurries By, 1955. Photograph: Fan Ho/Modernbook Gallery


Pattern, 1956. Photograph: Fan Ho/Modernbook Gallery
Ti cui cuc đi, v nhiếp nh gia đáng kính này dành nhng ngày tháng cui cùng ti California, nơi ông chng chi vi căn bnh Viêm phi và qua đi tui 84.
Hong Kong Midnight, 1958. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space


Thêm chú thích

Lines and Forms, 1959. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space

Private, 1960. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space

A day is done, 1957. Photograph: Fan Ho/AO Vertical Art Space
Ho Fan đã giành gn 300 gii thưởng trong nước và quc tế . Ông là thành viên ca Hi Nhiếp nh và Hi Ngh thut Hoàng gia Anh, thành viên danh d ca hi nhiếp nh ca Singapore, Argentina, Brazil, Đc, Pháp, Ý và B. Gn đây nht anh giành được "Gii thưởng Cuc sng thi gian tu, s toàn cu ca Trung Quc quc tế Gii thưởng Nhiếp nh th 2, Trung Quc năm 2015" do Hip hi nhiếp nh Trung Quc (Qung Châu).

Trong sut s nghip  ca mình, ông đã dy nhiếp nh và làm phim mt chc trường đi hc trên toàn thế gii. Tác phẩm của ông có trong : Bo tàng M +, Hng Kông, Bo tàng Di sn, Hng Kông, Thư vin Quc gia de France, Paris, Pháp, San Francisco Bo tàng Ngh thut Hin đi, M, Santa Barbara Bo tàng Ngh thut , M và nhiu hơn na.

http://www.bluelotus-gallery.com/#/ho-fan-1/




A composite of Working Skywards, Steps, and School is over. Photographs: Fan Ho/Modernbook Gallery/AO Vertical Art Space


Sun Rays, 1959. Photograph: Fan Ho/Modernbook Gallery




Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016

PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU

Một bài phân tích quá hay.....


KHƯƠNG DUY

Tố Hữu
Mẹ tôi kể rằng khi tôi còn chưa biết đọc, biết viết mẹ đã dạy tôi học thuộc những câu thơ Tố Hữu, để rồi khi mẹ lúi húi trong vườn sắn, tôi ngồi vắt vẻo trên tảng đá nghêu ngao đọc:
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Mẹ thuộc rất nhiều thơ Tố Hữu. Từ những bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ nhưBà bủ, đến những bài thơ mang âm hưởng truyện thơ như Bà má Hậu Giang; từ những bài thơ hừng hực lửa nhiệt thành như Hãy nhớ lấy lời tôi,đến những bài thơ nghẹn ngào đau thương như Bác ơi… mẹ đều thuộc nằm lòng. Giọng đọc của mẹ say sưa, ấm áp đã khiến những vần thơ TốHữu ngấm vào tâm hồn tôi như thể người ta ăn cơm uống nước để sống vàlớn lên.
Tôi vẫn còn yêu thơ Tố Hữu cho đến mãi hôm nay, dù rằng khi lớn lên tôi biết       được nhiều câu thơ khác của Tố Hữu không được hay như những câu thơ mẹ đã dạy tôi thủa thiếu thời. Tiếng đầu lòng con gọi Stalin. Có yêu thơ Tố Hữu đến nhường nào, tôi cũng nuốt không trôi những câu thơ nhưthế. Và khi đã biết lắng nghe bằng cả hai tai, tôi còn vỡ lẽ ra rằng bên cạnh một Tố Hữu thi sĩ với hồn thơ dâng trào như sóng cuộn biển Đông còn có một ông quan văn hóa Tố Hữu, người đã trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới một giai đoạn buồn của nền văn nghệ nước nhà với những tiêu án chẳng biết bao giờ sáng tỏ như Nhân văn – Giai phẩm. Ban đầu tôi còn hồ nghi, hay đúng hơn tôi không muốn hình ảnh nhà thơ Tố Hữu màtôi hằng yêu quý tan vỡ. Nhưng càng đọc nhiều, càng suy ngẫm nhiều, tôi buộc lòng phải chấp nhận sự thật đó. Tôi tự an ủi mình rằng một khi cóquyền lực trong tay, dẫu là nhà thơ cũng khó có thể giữ cho mình thánh thiện…



Phạm Duy

Ngược lại với Tố Hữu, tôi biết đến Phạm Duy muộn hơn nhiều. Khi tôi học lớp 11, một thầy ở Viện Ngôn ngữ học khi về Phú Thọ dạy đội tuyển Tiếng Anh đã nói tên tôi giống Phạm Duy. Có biết nhạc sĩ Phạm Duy là ai không? Thầy hỏi và tôi lắc đầu. Thầy chỉ cười. Đợt học đó thầy còn nhắc tới Phạm Duy với tôi một vài lần nữa. Tôi chỉ có thể đọc được trong ánh mắt của thầy một niềm trân trọng nhưng dường như cũng pha chút mỉa mai nào đó. Giọng nói và nụ cười của thầy như thể muốn hé mở cho tôi biết rằng nhân vật mà thầy nhắc đến phức tạp và thú vị vô cùng.
Đương nhiên hôm nay tôi đã có thể trả lời câu hỏi của thầy, bởi tôi đã biết Phạm Duy là ai. Và nếu thầy thực sự thích nhạc Phạm Duy, tôi có thể nói chuyện cùng thầy cả ngày về gia tài âm nhạc đồ sộ mà bài nào cũng lấp lánh như những viên sỏi nơi đáy nước của ông. Nhưng có lẽ tôi chẳng bao giờ còn gặp lại thầy, và nếu có thì cũng đã quá muộn bởi người nhạc sĩthiên tài ấy đã mãi mãi ra đi…
***



Đến đây, tôi muốn nói về mối tương liên giữa Phạm Duy và Tố Hữu, điều tôi đã nhận thấy từ khi bắt đầu biết nghe nhạc Phạm Duy, nhưng phải sau khi ông đi về cõi vĩnh hằng, tôi mới thấm thía và ngộ ra những điều xưa kia mình chỉ mơ hồ cảm nhận thấy. Mối tương liên ấy, nhiều người bất nhẫn hẳn sẽ cho là điều hoang đường bởi hai con người ấy có hai số phận hoàn toàn khác nhau, ngoại trừ việc họ đều là nghệ sĩ. Nhưng trên đời này, nghệ sĩ cũng có năm bảy đường, và con đường mà Phạm Duy và Tố Hữu đã chọn lại quá khác xa nhau. Nhưng hãy bình tâm và tạm quên đi cái lằn ranh về ý thức hệ vốn đã làm cho đất nước này quằn quại dưới khói lửa chiến tranh mấy mươi năm, bạn sẽ cảm nhận được ở hai ông những điểm chung mà dẫu có muốn xóa nhòa cũng không thể nào xóa nổi.


Tố Hữu sinh năm 1920, chỉ trước Phạm Duy một năm. Chẳng những làngười cùng thời mà trong suốt mấy mươi năm sống và viết, nếu như Tố Hữu trở thành cây đại thụ của nền nghệ thuật cách mạng miền Bắc thì Phạm Duy là ngôi sao sáng chói trên bầu trời nghệ thuật miền Nam. Giờ đây, khi non sông đã liền một dải thì hai ông xứng đáng được nhắc đến như hai nghệ sĩ đã bằng âm nhạc và thơ ca của mình vô tình chung tay dệt nên bức tranh đầy đủ màu sắc kể về số phận dân tộc suốt nửa sau thếkỷ XX.
Nói về thơ Tố Hữu, dẫu là người ghét ông hay yêu ông, cũng không thểnào phủ nhận được rằng, sau Nguyễn Du, Tố Hữu là một trong những nhàthơ lớn nhất của dân tộc, với tài năng đưa tiếng Việt vào thơ thành công ít ai sánh kịp. Với sức viết không mệt mỏi suốt gần một hoa giáp kể những ngày còn là chàng thanh niên Nguyễn Kim Thành, cho tới những dòng tâm sự cuối cùng của một ông lão tuổi ngoại bát tuần, thơ Tố Hữu vẫn dạt dào tuôn chảy như một dòng suối đã khơi nguồn là chảy một mạch cho tới tận cùng. Ông thành công ở nhiều thể loại thơ nhưng đặc biệt để lại dấu ấn với thể thơ lục bát. Thơ lục bát của Tố Hữu giản dị, hồn hậu nhưng cũng không kém phần trong sáng, thanh cao. Nhiều câu thơ Tố Hữu nếuđặt cạnh Truyện Kiều sẽ khó có thể nhận ra; lại có những câu thơ lẫn vào trong ca dao như tiếng hồn cha ông tự thủa nào. Trải dài với bảy tập thơ, Tố Hữu đã bền bỉ dùng tiếng Việt để diễn tả nhiều cung bậc của cảm xúc riêng – chung.
Có lúc, đó là những câu thơ ngậm ngùi cho thân phận người con gái giang hồ buôn mái chèo trên sông Hương:
Đời em buông chiếc thuyền nan xuôi dòng
Thuyền em rách nát
Mà em không chồng
Có lúc, đó là những câu thơ hào sảng như một dòng thác bất tậng vui say chiến thắng Điện Biên lừng lẫy:
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Có lúc, đó là những lời thơ tình tứ, ngọt ngào đằm thắm ca ngợi tình yêuđôi lứa:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Có lúc, đó là những câu thơ chất chứa nỗi đớn đau uất nghẹn vì nỗi mất mát quá lớn:
Đã mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa
Những ai không ưa thơ Tố Hữu vì điểm này hay điểm khác vốn chẳng mấy khi liên quan tới thơ ông, hãy trả lời thật lòng rằng những câu tôi trích ra trên đây lẽ nào không phải là thơ, và lẽ nào không phải là thơhay. Công bằng mà nói, có người chê thơ Tố Hữu nặng tính tuyên truyền, nhưng thử hỏi suốt mấy mươi năm có ai làm thơ tuyên truyền hay bằng Tố Hữu.
Xuân Diệu, Huy Cận trước 1945 làm mưa làm gió trên thi đàn nhưng viết thơ cách mạng thì dở đến mức chẳng ai muốn nhắc tới. Quả sấu non trên cao, Đoàn thuyền đánh cá là những thí dụ nhãn tiền. Nói về chính trị vàtình yêu đều nồng nàn, say đắm như nhau. Nói về lý tưởng mà ngọt ngào như viết tình thư. Nói về lãnh tụ mà ngỡ như con viết tặng cha. Nói về mẹViệt Nam mà như nói về mẹ của riêng mình… Chỉ có thể là tâm hồn thơđặc biệt của Tố Hữu, tưởng như là điểm yếu nhưng hóa ra lại là tài năng trác tuyệt của ông.
Cá nhân tôi nhận thấy thơ Tố Hữu là sản phẩm của một trí tuệ thơ vô tiền khoáng hậu, tôi sẽ không ngại ngần xếp Tố Hữu vào bảng vàng ghi danh những thi sĩ xuất sắc bậc nhất của lịch sử văn chương Việt Nam.
Còn Phạm Duy, người nhạc sĩ tài hoa đã một thời theo Việt Minh rồi chịu không nổi những gông cùm về tư tưởng rồi dinh-tê rồi vào Nam. Phải nói thêm rằng, trong hồi ký của mình, chính Phạm Duy đã thấp thoáng hémở rằng một phần hiện thân của những gông cùm ấy chính là Tố Hữu – người có quyền cầm cân nảy mực gần như tối cao trong về tư tưởng văn hóa nghệ thuật trong suốt mấy mươi năm. Chuyến đò vĩ tuyến đã đưa Phạm Duy sang một chân trời khác, nơi ông có thể tự do tự viết lên những bản nhạc tình say đắm lòng người mà không còn sợ ai dèm pha, và kể cảkhi có người dèm pha (như trường hợp bài Kỷ vật cho em) thì cũng không ai có đủ thẩm quyền để phê bình ông, để ngăn cấm ông, để ép ông từ bỏnhững đứa con tinh thần của mình; điều mà Phạm Duy không thể cóđược nếu ông ở lại miền Bắc.
Quyết định đi tìm tự do trong nghệ thuật đã đẩy Phạm Duy sang bên kia chiến tuyến với Tố Hữu. Nhưng trớ trêu thay, hai con người như nước với lửa trên lập trường chính trị ấy lại giống nhau đến lạ kỳ trong nghệ thuật. Cái âm hưởng dồn dập, da diết, trào tuôn trong thơ Tố Hữu cũng hiện hữu trong âm nhạc Phạm Duy. Hơn thế nữa, Phạm Duy cũng là người cóbiệt tài với tiếng Việt, ông đặt lời, phổ thơ điêu luyện như một nghệ nhân bậc thầy. Nhạc của ông đã đưa âm nhạc Việt Nam lên một tầm cao mới hiện đại mà không lìa thoát cái âm giai ngũ cung ngọt ngào da diết.
Đặc biệt, lời nhạc của ông bên cạnh những ca từ mới mẻ, phá cách, phần nhiều là những lời đậm đà hương vị dân ca. Hãy lắng nghe tiếng lòng ông trải rộng trongTình ca:
Một yêu câu hát Truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta
Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói mặn mà có duyên
Và tình tứ như một lời hát giao duyên trong Đố ai:
Đố ai mấy tuổi trăng già
Để em lên tiếng mặn mà yêu anh
Phạm Duy mang cả một dải Việt Nam vào trường ca Con đường cái quan với những hình ảnh đẹp như trong cổ tích:
Năm tê trong lúc sang Xuân
Tôi theo Công Chúa Huyền Trân tôi lên đường
Ðường máu xương đã lắm oán thương
Ðổi sắc hương lấy cõi giang san
Tôi đi theo bước ái tình
Ði cho trăm họ được hòa bình ấm no
Ðèo núi cao nghe gió vi vu
Thổi phấn son bay tới kinh đô
Hồn dân tộc thấm đãm trong từng nốt nhạc, lời thơ là điều mà Phạm Duy và Tố Hữu giống nhau. Chỉ cần lắng nghe cách đưa những tiếng địa phương, những tên gọi của từng vùng miền đất nước vào thơ vào nhạc đãcó thể thấy chất dân gian đã được hai ông cùng vận dụng sáng tạo và nhuần nhuyễn đến mức nào.
Không chỉ thế, dù bằng những cách tiếp cận khác nhau theo những ý thức nghệ thuật khác nhau nhưng chủ đề trong thơ Tố Hữu và nhạc Phạm Duy nhiều khi rất tương đồng. Con đường cái quan của Phạm Duy lẽ nào không có chút gì đồng điệu với Nước non ngàn dặm của Tố Hữu? Bà mẹquê và Bà bủ lẽ nào không phải đều là những hình ảnh đẹp đến nao lòng về người mẹ Việt Nam? Trong thơ Tố Hữu và nhạc Phạm Duy tình yêu riêng và tình yêu chung hòa quyện với nhau khéo léo đến bất ngờ, vàcũng chỉ có hai ông mới có cái biệt tài luyến láy giữa cái riêng với cái chung có duyên đến thế.
Và trên hết, Phạm Duy và Tố Hữu đều là những người đều yêu tiếng Việt và dành trọn cuộc đời nghệ thuật của mình để tô điểm cho tiếng Việt, đẩy thơ và nhạc dùng tiếng Việt lên đến đỉnh cao. Thơ Tố Hữu, nhạc Phạm Duy giống như hai mảnh ghép tưởng như khập khiễng nhưng khi ghép lại sẽ giúp chúng ta thấu hiểu tiếng lòng của con người Việt Nam trong thếkỷ XX bị cách ngăn bởi một dòng sông vĩ tuyến với đầy đủ cung bậc hờn giận yêu thương,vừa lớn lao, lộng lẫy mà rất đỗi gần gũi, chân thành…
Xin được nói thêm rằng ở thơ và nhạc của hai ông, người đọc người ngheđều thấy hiện lên sự nhiệt thành, sự cuộn chảy của cảm xúc mà tôi tin đólà cảm xúc thật sự của người nghệ sĩ.
Tố Hữu viết thơ bằng trái tim sục sôi của người chiến sĩ cộng sản, trái tim lớn không sợ gì súng đạn. Dẫu tôi hôm nay đã không còn giữ được sựnhiệt thành ngày nào khi nghe mẹ đọc Hãy nhớ lấy lời tôi, và sự hoài nghi trong lòng tôi với quá khứ ngày một lớn hơn, nhưng tôi luôn trân trọng những gì là cảm xúc chân thành của con người. Người ta có thể hoài nghiý nghĩa của một cuộc chiến tranh nhưng không được phép hoài nghi sựdũng cảm của người chiến sĩ. Tố Hữu khi viết những dòng như thác lũ ca ngợi chiến thắng Điện Biên lẽ nào ông lại không vui sướng, khi viết những dòng quặn thắt lòng người khi Hồ Chủ tịch lẽ nào ông lại không đớn đau? Tôi tin rằng thơ không nói dối cảm xúc của con người. Khoan hãy bàn đếnđúng sai tốt xấu mà hãy hiểu rằng ở thời điểm đó, ở tâm thế đó Tố Hữuđang bằng tình yêu thiêng liêng, và cảm xúc chân thành viết ra những dòng thơ lai láng và chứa chan tình cảm ấy. Chỉ có rung cảm chân thành mới giúp cho chất thơ mới tuôn chảy đầu ngọn bút không một chút ngập ngừng như thế.
Còn Phạm Duy, hẳn không cần phải nói thêm bởi những ai từng nghe nhạc của ông đều dễ dàng cảm nhận sự dâng trào của cảm xúc trong ca khúc của ông mạnh mẽ đến nhường nào. Dẫu đó là tình yêu lứa đôi hay tình yêu đất nước, Phạm Duy đều viết lên những nốt nhạc lời ca bằng cảtrái tim giàu rung cảm của mình. Giết người đi, giết người trong mộng vẫnđi về. Ngày mai đi nhận xác chồng, say đi để thấy mình không là mình. Tôi yêu những sông trường, biết ái tình ở dòng sông Hương, sống no đầy là nhờ Cửu Long, máu sông Hồng đỏ vì chờ mong… Những lời ca nồng nàn, dạt dào như thế lẽ nào không phải do cảm xúc chân thật mà thành.Đọc thơ của Tố Hữu và nhạc của Phạm Duy người ta thấy cảm xúc được giải phóng mãnh liệt, cảm xúc như thoát khỏi trái tim chật hẹp, tìm được tự do thoải mái vùng vẫy dọc ngang.
Nói đến tự do, tôi cho rằng Tố Hữu cũng yêu tự do lắm chứ, một người đãtừng nghe hè dậy bên lòng, mà chân muốn đạp tan phòng mà ra thì lẽnào lại không yêu tự do? Vậy mới thấy tự do hóa ra là thứ tương đối. Phạm Duy không tìm được tự do cho mình dưới trời miền Bắc nhưng TốHữu lại như cá được nước, như chim trời được chắp cánh tung bay. Cho nên thơ Tố Hữu dẫu nhiều câu là thơ ”đường lối” mà nghe sao vẫn nhẹnhàng, thanh thoát, khoáng đạt đến diệu kỳ. Chỉ tiếc Tố Hữu sinh thời cólẽ đã không hiểu rằng cái khuôn khổ và hình thức tự do mà Phạm Duy cần rộng hơn thế thứ tự do mà ông có thể chấp nhận rất nhiều…
***
Phạm Duy đã có lần nói rằng suốt cả cuộc đời viết nhạc của mình, ông luôn khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, khi đất nước vui ông cũng vui, khi đất nước buồn ông cũng buồn. Chính vì thế trong kho tàng tác phẩmđồ sộ để lại, Phạm Duy đã khắc họa đầy đủ những biến động của đất nước trong suốt hơn nửa thế kỷ. Đất nước trong nhạc của ông trải từ gấm hoađẹp đẽ đến mất mát tang thương và khi ông rời bỏ quê nhà thì đất nước chỉ còn là quê hương hoài niệm. Cái nổi trôi của đất nước từ núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường cũng là cái nổi trôi của cuộc đời Phạm Duy, từ một chàng trai Hà Thành tài hoa do cuộc li loạn mà đã dạt trôi vào Sài Gòn rồi bỏ nước ra đi, để rồi mấy mươi năm sau, tha thiết nhớ quê hươngông lại trở về với đất mẹ…
Tố Hữu cũng vậy. Cuộc đời Tố Hữu với bảy tập thơ lớn trải dài theo bướcđường lịch sử dân tộc được coi như tập nhật ký bằng thơ của những chặngđường cách mạng Việt Nam. Soi mình vào thơ Tố Hữu, có thể thấy hiển hiện lên cả một thời máu và hoa, vinh quang và gian khổ. Từ những ngàyđầu tiên giác ngộ cách mạng, cho đến khi cách mạng thành công, rồi lên Việt Bắc lập chiến khu và trở về bước vào cuộc chiến hai mươi năm xẻ dọc Trường Sơn. Để đến cuối đời, những gì còn lại là nỗi trăn trở với thế sự, vềcái mới và cái cũ, về cái còn và cái mất.
Tố Hữu và Phạm Duy phải chăng đều đã gặp nhau ở đây, khi mà hai ông đều biến cuộc đời mình thành thơ thành nhạc, hòa chung vào mệnh nước để viết lên những tác phẩm có tính tiêu biểu cho cả một thời đại.
***
Số phận của nhạc Phạm Duy và thơ Tố Hữu tưởng khác nhau nhưng thực ra lại rất giống nhau, bởi lẽ vừa có lắm vinh quang những cũng phải chịu quá nhiều cay đắng.
Hãy nói về nhạc của Phạm Duy trước. Dẫu là một nhạc sĩ nổi tiếng với những tác phẩm đỉnh cao nhưng số phận các tác phẩm của ông lại hết sức chìm nổi long đong. Cũng bởi những ca khúc như Bên cầu biên giới không được cách mạng chấp nhận nên ông đã cảm thấy mình cần phải rađi, để rồi thành danh ở bên kia vĩ tuyến 17. Nhạc Phạm Duy đã trở thành biểu tượng của âm nhạc Sài Gòn, đến mức những người Sài Gòn bỏ nước ra đi sau cuộc chiến đã ngậm ngùi nhớ tiếc:
Đâu Phạm Duy với tình ca sầu
Mắt lệ rơi khóc thủa ban đầu
Được yêu mến là thế, nhưng cũng có lúc ông đứng giữa hai làn đạn, vì ởphía bên kia cũng có người cho rằng nhiều ca khúc của ông như Kỷ vật cho em, Tưởng như còn người yêu quá đau thương, sầu thảm khiến cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất đi tinh thần chiến đấu. Phạm Duy đãtrả lời rằng, nếu như chỉ mấy câu hát mà đủ sức làm cho cả đoàn quân nhụt chí thì lỗi là ở quân sĩ chứ đâu phải ở lời ca? Tôi tâm đắc với ý kiến này và sẽ còn trở lại khi có dịp bàn về quan điểm quản lý nghệ thuật hiện nay.
Sau năm 1975 nhạc của Phạm Duy trở thành nhạc cấm, ngoại trừ những ca khúc được hát ở hải ngoại thì tuyệt đại đa số không được chính thức phổ biến trong nước. Đương nhiên, khó có thể cản dòng chảy của âm nhạc, nên dù không được cấp phép nhưng nhiều tác phẩm của ông vẫn vang lên bền bỉ suốt mấy mươi năm ông vắng nhà. Nhưng là một người nhạc sĩ, nhìn những đứa con tinh thần của mình phải sống cuộc đời ngoài vòng pháp luật, dẫu được người nghe yêu mến nhưng danh chưa chính, ngôn chưa thuận thì làm sao không đau lòng. Hơn nữa, một khi chưađược chính quyền công nhận thì sức truyền bá của những tác phẩm ấy cũng chưa thể cao xa như lẽ ra chúng phải thế.
Có lẽ vì vậy, trong những năm cuối đời, Phạm Duy vẫn luôn mong muốn ngày càng nhiều tác phẩm của ông được cấp phép. Ông nhẩm tính rằng, cho tới nay chỉ có 1/10 số nhạc phẩm của ông được nhà nước cho lưu hành, vậy thì phải mất 100 năm nữa họa chăng nhạc của ông mới được giải phóng hoàn toàn khỏi cơ chế kiểm duyệt khắt khe. Phạm Duy đauđáu nỗi niềm rằng trong cả ngàn ca khúc của ông, có vô số bài ca ngợi tình yêu lứa đôi, tình yêu đất nước, chẳng hề dính dáng tới chính trị, nên nếu như để mai một sẽ đáng tiếc vô cùng. Nhưng biết làm sao được khi cho tới gần đây, ca khúc bất hủ Mùa thu chết mới được cấp phép, vì bao năm qua người ta vẫn dè chừng ca khúc này vì cho rằng Phạm Duy nhạo báng Cách mạng tháng Tám… Với lối tư duy nghi kỵ như thế thì biết đến khi nào nhạc của ông mới đến được với công chúng trọn vẹn?
Số phận thơ Tố Hữu thoạt nhìn tưởng chừng như khác hẳn với số phận nhạc Phạm Duy. Đã có một thời, từ học sinh tiểu học cho tới sinh viên đại học đều học thơ Tố Hữu. Các đề thi từ tốt nghiệp phổ thông cho tới tuyển sinh đại học, và cả thi học sinh giỏi quốc gia môn Văn đều phải ít nhiều nhắc tới thơ Tố Hữu. Nhưng trong những năm gần đây, sự hiện hiện của thơ Tố Hữu bỗng trở nên thưa thớt dần. Có người nói thơ Tố Hữu đang gặp hạn.
Thực ra, nếu nhìn thẳng vào sự thật thì thơ Tố Hữu đã gặp hạn từ lâu. Biết bao nhiêu giáo viên dạy Văn khi giảng thơ Tố Hữu đều giảng như giảng chính trị, thậm chí nhiều thầy cô không ngại tỏ ra chán chường. Giới phêbình từ lâu không còn mặn mà với thơ Tố Hữu. Người ta nửa công khai chê thơ Tố Hữu rằng đó là thơ tuyên truyền, thơ chính trị, không có giátrị nghệ thuật.
Vậy hóa ra bao nhiêu lâu nay người ta ca ngợi thơ Tố Hữu chỉ bằng sáo ngữ, người ta truyền bá thơ Tố Hữu giống như truyền bá một thứ nghịquyết, một kiểu tự nguyện trên tinh thần bắt buộc. Người ta bằng mặt nhưng không bằng lòng với thơ Tố Hữu. Hóa ra, thơ ông vào thời hoàng kim được trọng vọng vì phù hợp với chủ trương, đường lối và bởi ông làỦy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tương đương PhóThủ tướng). Thắm lắm phai nhiều, nhất là khi sắc thắm đó nhiều phần làgiả tạo. Cho nên khi văn nghệ được cởi trói, người ta lập tức đối xử lạnh nhạt với thơ Tố Hữu, coi nó như cái gì lỗi thời, lỗi mốt, và thơ Tố Hữu nửa chính thức xuống giá trong lòng công chúng.
Về điểm này Phạm Duy có phần còn may mắn hơn Tố Hữu. Nhạc Phạm Duy bị cấm nhưng có triệu triệu khán giả thầm yêu, trong khi thơ Tố Hữuđược tôn vinh bằng những lời chót lưỡi đầu môi, còn người thực sự trân trọng thơ ông đã và đang dần rơi rụng.
Tôi xin nói rằng thái độ của chúng ta với nhạc Phạm Duy và thơ Tố Hữuđều là bất công. Những người ngồi xét duyệt công bố từng tác phẩm của Phạm Duy chỉ là hàng con cháu của ông, cả về tài về đức đều chẳng xứngđáng để người nghệ sĩ tài hoa của dân tộc phải luồn cúi trong cái cơ chếxin-cho cứng nhắc. Nhạc của Phạm Duy đa phần đều nên được và cầnđược phổ biến và tôn vinh, nhất là trong bối cảnh nền âm nhạc Việt Namđang lao đao vì thiếu đi những tài năng thực sự, và một thời tao loạn củaâm nhạc đang diễn ra với đủ thứ bát nháo mang danh nghệ thuật lên ngôi.
Về phía Tố Hữu, ở nơi chín suối, hẳn Tố Hữu cũng thiết tha mong chúng ta nhìn nhận lại cho đúng gia tài thơ đồ sộ mà ông để lại. Vẫn biết thơ TốHữu gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông nhưng trong thơ Tố Hữuđâu chỉ có những lời giáo huấn, đâu chỉ có súng gươm, đâu chỉ có căm thù, đâu chỉ có đấu tranh. Trong thơ Tố Hữu có cả một trời quê hương,đất nước thân thương; có cả những mối tình thủy chung son sắt; có cảnhững người mẹ dịu hiền chịu thương chịu khó. Những tình cảm chân thật, giản dị mà cao cả ấy đã được Tố Hữu đưa vào thơ ông bằng những câu thơ tài hoa tuyệt diệu mà nếu kể ra ở đây e không cùng, khôn xiết.
Thơ ông còn nhiều góc cạnh đẹp lung linh mà vì cái mặc cảm chính trịngười ta đã vội quên đi. Chẳng cần nói những điều cao xa, hôm nay mỗi lần bước trên đường phố Châu Âu tuyết phủ, tôi vẫn thầm nhớ tới câu thơrất đẹp của Tố Hữu:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn

Hay khi bước đi bên dòng sông Hương của xứ Huế, có khi nào ta không ngẩn ngơ nhớ tới câu thơ:
Trên dòng Hương Giang
Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên giòng Hương Giang
Cho nên chỉ cần chúng ta khơi gạn trong hàng trăm bài thơ dài ngắn củaông, sẽ thấy được cả một hồn thơ phong phú, sôi nổi mà bội phần lãng mạn, luôn mới mẻ và nồng nàn mãnh liệt. Đó là một kho báu của thi ca mà nếu không khéo chúng ta sẽ để thời gian phủ bụi lên.
****
Xin kết lại bài viết này bằng câu chuyện sau đây, câu chuyện do chính Phạm Duy kể lại về cuộc hạnh ngộ của ông với nhà thơ Tố Hữu:
Tôi quen anh Tố Hữu từ ngày Cách Mạng thành công và có nhiều dịp công tác với anh tại Huế và tại Việt Bắc trong ngày Đại Hội Văn Hóa.
Trở về quê hương năm 2001, tôi đã tới thăm một “đồng chí” xưa. Hai người đều vui vì có được môt hội ngộ không ngờ…
Chúng tôi không đả động gì tới chuyện “chính chị, chính em”, tới chuyện “đấu tranh, đánh trâu” chỉ nói chuyện “trời mưa, trời nắng, con cắng đánh nhau, bồ câu đi chữa, chốc nữa lại tạnh”.
Rồi anh Tố Hữu tự tay mở gói bánh đậu xanh Hải Dương ra mời tôi ăn…
Chia tay ra về, tôi không ngờ chỉ một năm sau, anh Tố Hữu qua đời.
Trong buổi gặp gỡ này, có mặt Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông Tin Trần Hoàn.
Anh Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920–2002) là một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam. Nghệ thuật thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc.
Phối hợp tài tình ca dao, các thể thơ dân tộc và thơ mới.
Vận dụng biến hoá cách nói, cách cảm, cách so sánh ví von rất gần gũi với tâm hồn người. Phong phú vần điệu, câu thơ mượt mà, dễ thuộc dễ ngâm.
Những bài “Việt Bắc”, “Nước non ngàn dặm”, “Theo chân Bác”… là những bài thơ tuyệt bút của Tố Hữu.
Tôi tin rằng giờ ở nơi nào đó, Phạm Duy và Tố Hữu đã gặp lại nhau nhưnhững người bạn nghệ sĩ, cùng nhau nhấp chén rượu xuân và quên đi mọi chuyện đắng cay của kiếp trước. Chỉ có chúng ta vẫn loay hoay trong vòng kim cô của lập trường, quan điểm để rồi đánh mất đi những giọt vàng của hai bậc tài hoa còn lưu lại trên cõi nhân gian.

( Nguồn: Nguyễn Trọng Tạo )