 |
Nhà Nhiếp ảnh VŨ HUYẾN |
Nickname Thanh Bằng trên facebook luôn có những bài viết
tôi thích đọc. Cách đây hai hôm anh post lên bài viết “ Phía sau NGHỆ THUẬT”đọc
thích quá. Tôi thích bài có hai khía cạnh,
Môt là lối viết văn diễn tả nhân vật một cách “ trong ruột” của anh là “gu” đọc
của tôi; Hai là nhận vật trong bài viết là anh Vũ Huyến – một đại ca của tôi
đúng nghĩa từ ngoài đời cho đến trong lĩnh vực chơi ảnh Nghệ Thuật báo chí. Thật
ra cả anh Nguyễn Thành ( nick Thanh bằng) và anh Vũ Huyến đầu là những người có
tầm cở ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật Nhiếp ảnh Việt Nam, vì cả hai anh đều là những
nhà lý luận phê bình giỏi. Tôi thể hiện tình cảm của tôi bằng cách đưa hai Ông
Anh lên trên blog LANG THANG vậy.
( Trích một số bức ảnh trong tập sách NHIẾP ẢNH VÀ CUỘC SỐNG của Vũ Huyến)
Phía sau NGHỆ THUẬTNguyễn Thành
 |
Hai ông anh Nguyễn Thành & Vũ Huyến |
.JPG) |
Tôi và đại ca Vũ Huyến tại Campuachia ( 2008) |
Ông quẳng cho tôi cuốn sách với lời đề tặng: “Thân tặng nhà báo, nhà nhiếp ảnh, nhà nghiên cứu lý luận phê bình Văn
Thành – Để lưu niệm những tháng năm Cùng sống, Cùng chụp, Cùng viết và Cùng suy
nghĩ”. Đó là cuốn “Nhiếp ảnh và cuộc sống” mới
xuất bản của ông. Vũ Huyến là một người đi nhiều, cảm nhiều và viết khỏe, nhiều
dự định của ông đang được hình thành. Đằng sau những trang viết là đời, là
nghiệp của ông.
Vượt qua sự ồn ào bên ngoài, người ta thấy VŨ HUYẾN có một tình yêu thầm
lặng và nồng cháy. Nồng cháy thì ai biết ông cũng có thể chấp nhận, còn thầm
lặng với Vũ Huyến thì dường như là nghịch lý, một sự vô lý. Bởi lẽ từ trước tới
nay nơi nào, chỗ nào có mặt Vũ Huyến, nơi đó có tiếng cười, niềm vui và cả nước
mắt. Nó cứ đến, cứ diễn ra một cách tự nhiên, như vốn dĩ phải vậy. Ai không
cười, ông cười, ai không khóc, ông khóc, ai không yêu thương, ông yêu thương.
Đã có lúc ông tự bạch, Vũ Huyến - “dớ dẩn”: yêu - không yêu, chấp nhận - không
chấp nhận, phản đối - không phản đối…, như một sự cứu rỗi, như một định mệnh.
Nghịch lý ở đây là có thật.
Tôi đang cặm cụi trên căn phòng tầng 2, chúi mũi vào chiếc màn hình máy
tính. Ông gọi tôi đến, rồi để tôi ở nhà một mình đi đón cháu. Quả thực tôi đã
đọc nhiều bài ông viết nhưng ít được xem ảnh ông chụp. Là một trong số ít người
được đào tạo cơ bản về nhiếp ảnh, thú thật tôi coi nhẹ mảng này ở ông. Đây có
lẽ là lần đầu tiên tôi được xem một cách tổng thể, và thật bất ngờ trước cách
tiếp cận cuộc sống của ông, một cuộc sống phía sau nghệ thuật.
Đúng lúc mải mê nhất thì có tiếng nói vang lên.-Cháu chào ông. Cháu là Trung Hiếu và đây là bạn cháu tên Hùng.Chào hai cháu, đi học về hả-Vâng, cháu bật điện cho ông nhé. Tay cậu bé đã để sẵn trên công tắc điện.
Nhìn qua khung cửa sổ mới biết mùa thu ngày đã ngắn rồi.Được, cảm ơn cháu. Thằng bé giống hệt ông cả từ tác phong, dáng vẻ đến cách
ăn nói. Hình ảnh Vũ Huyến mấy chục năm trước hiện về: loi choi, nhanh nhẩu và
chu đáo. Khi đó tôi mới ra trường về nhận công tác ở một tờ báo đối ngoại. Lần
đầu tiên gặp ông, ông chủ động chìa tay bắt: mình Vũ Huyến, xin được làm quen.
Ông để lại ấn tượng trong tôi về một phong cách rất “Tây” nhưng được “diễn” rất
quê mùa pha chút bụi đời của Vũ Huyến.Tôi quen ông từ đấy.

Đối với tôi, ông là người anh. Đối với nhiếp ảnh ông là một trong những
người tận tụy, lưu giữ, ghép nối lại từ những mảnh rời rạc để xây dựng nền
nhiếp ảnh chính qui của nước nhà. Những gì hợp với suy nghĩ của ông là ông lao
vào, làm việc như một kẻ “ham hố”, để rồi thành công lại đứng ra một bên hờn
dỗi như một đứa trẻ bị hàm oan, bị hắt hủi, để rồi “chứng nào lại tật ấy”,
chẳng thể đổi thay. Từ ngày tôi quen ông đến bây giờ vẫn vậy,
chỉ có làn da như chiếc áo vải bông mà chủ nhân ít chăm chút là lượt còn con người
thì ít suy tư hơn. Lạ thật, với Vũ Huyến cái gì cũng đối nghịch, ngoại trừ
nhiếp ảnh, lúc nào ông cũng đau đáu trong mình.

Hôm trước trên “Diễn đàn văn hóa” của VTV, ông phát biểu: Theo tôi, sự
chuyên nghiệp trong nghề ảnh báo chí trước hết ở nhận thức: ảnh báo chí như một
loại hình báo chí độc lập. Hiện nay, các tòa soạn hầu hết là không có phóng
viên ảnh chuyên nghiệp mà chỉ có phóng viên tiếp cận sự kiện để viết bài rồi
chụp ảnh luôn. Vì thế, ảnh báo chí hiện nay vẫn mang tính minh họa cho bài viết
nhiều hơn. Có hàng trăm tờ báo dùng ảnh hàng ngày, nhưng nếu bày cùng lúc những
bức ảnh xuất hiện trên các mặt báo và tạp chí trong một ngày để tìm thấy
ở đó chứa đựng bao nhiêu sự kiện thật, sự kiện mới có sức tác động đến độc giả,
thì quả thực không nhiều. Tôi cho rằng, ảnh báo chí trong giai đoạn hiện nay,
mặc dù được sự hỗ trợ của những máy móc tối tân, song vẫn không có những thành
tựu như ảnh báo chí trong thời kỳ chiến tranh, trong điều kiện thiếu thốn vật
tư, trang thiết bị về ảnh. Sự đầu tư trí tuệ, chất xám trong mỗi bức ảnh còn
ít. Máy móc hỗ trợ nhiều cho con người, song cũng có hệ lụy là khiến người chụp
ngày một "lười" đi. Việc tuyển chọn đầu vào ở các trường có đào đạo
chuyên ngành ảnh báo chí cũng có vấn đề. Không nên chỉ tuyển học sinh phổ
thông, mà nên tuyển những người có năng khiếu, có kinh nghiệm với tiêu chí sau
khi ra trường phải là các phóng viên ảnh chuyên nghiệp. Tăng cường số giờ thực
hành, giảm giờ học lý thuyết và tăng cường số giờ giảng có các thầy là nhà báo
có kinh nghiệm về ảnh đến dạy. Ở các tòa soạn, ngoài việc có phóng viên ảnh độc
lập, biên tập viên, thư ký tòa soạn, các phóng viên cũng cần được trang bị kiến
thức về ảnh.
Ngày xưa ông đã nói thế, bây giờ ông vẫn nói thế. Ông không thay đổi hay
loại hình ảnh báo chí của ta chậm đổi thay. Ông cho rằng mỗi năm ở ta có hàng
vài chục cuộc thi và triển lãm. Tuy vậy nhưng chất lượng các tác phẩm ảnh không
cao, it người để tâm tìm tòi, khám phá những nét mới trong thiên nhiên, cuộc
sống…, người ta vẫn thích đi theo lối mòn sẵn có. Muốn phát triển hơn nữa,
Nhiếp ảnh Việt Nam cần biết từ bỏ lối mòn. Trong khi đó, nghệ thuật luôn đòi
hỏi những góc nhìn riêng, chứa đựng cái tôi cá nhân để người thưởng thức nhìn
vào, họ có thể cảm nhận được sự lao động sáng tạo của người nghệ sĩ. Nghệ thuật
nói chung và nhiếp ảnh nói riêng, phải làm cho người ta thấy cái họ chưa thấy,
hoặc giúp họ nhận ra vẻ đẹp bất ngờ ngay trong chính những điều quen thuộc
quanh mình... Đừng quên, bức ảnh không phải chỉ để cho anh nhìn thấy cái gì
trên đó, mà quan trọng hơn là đằng sau đó! Ông đã âm thầm làm điều này.
Vốn là dân văn, vì thích chụp ảnh mà mượn máy chụp chơi và được đăng báo,
bị quyến rũ bởi công việc này, rồi trở thành Nhà Lý luận phê bình nhiếp ảnh Vũ Huyến,Tổng biên tập Tạp chí Nhiếp ảnh,
Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu.
Ông đến với nhiếp ảnh một cách tình cờ nhưng gắn bó với nó như duyên phận. Vũ
Huyến sinh tại Hà Nội, tốt nghiệp khoa Văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
(1963 - 1967), sau đó theo học khoa Báo chí, bộ môn ảnh Trường Đại học Tổng hợp
Lomonosov (Liên Xô cũ).Ông có một tuổi thơ khá vất vả, cuộc sống đã rèn ông thành một người năng
động.Ngày nay sống trong ngôi nhà mới khang trang trong ngõ 191 Minh Khai, ông
lại nhớ về túp lều tranh cũ nát ngoài bãi sông Hồng. Ông là con út của vợ chồng
một gia đình Hà Nội gốc, mồ côi cha từ khi chưa đầy hai tháng tuổi. Tuổi thơ
ông là những ngày trôi dạt ngoài bãi Lương Yên, trên bến phà Đen, cùng mẹ và
người anh trai lầm lũi kiếm sống. Ông làm đủ việc, từ vớt củi trên sông đem vào
phố bán, đến bán kem, bán lạc rang, kéo xe bò thuê, hái ổi thuê, vẽ thuê ... Có
đêm, cậu bé Vũ Huyến, 14 tuổi, kéo chiếc xe ba gác chở hàng thuê từ nội thành
về huyện Thanh Trì, trên quãng đường dài mà số cây số đi qua nhiều hơn cả số
tuổi. Trả hàng xong, một mình lủi thủi kéo xe về, nhìn ánh đèn le lói từ các
ngôi nhà yên ấm ven đường, tủi thân, nước mắt cay sè. Có lẽ chính cuộc đời cơ
cực đó đã làm ông biết thương người và sớm có ý thức tự lập, quyết chí vươn
lên.
Gần ba mươi năm trước (1985), khi còn là phóng viên Báo ảnh Việt Nam thường
trú ở Thủ đô Phnôm Pênh, những lúc rỗi việc, Vũ Huyến thường đi bộ dọc theo bờ
sông Mekong, đoạn chảy qua thành phố, vừa thư giãn vừa để tìm hiểu cuộc sống và
chụp ảnh. Kể từ đó, đi bộ dần dà trở thành thói quen, thành môn thể thao mà ông
ưa thích. Mùa hè cũng như mùa đông, ngày nào cũng vậy, Vũ Huyến dạy từ rất sớm,
đi bộ từ nhà lên cầu Long Biên, vòng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm, đều đặn hơn 10 km,
rồi mới trở về chuẩn bị đi làm. Trời quang mây tạnh ông đi, trời mưa ông cũng
khoác áo mưa vào,... đi! Khi thành phố còn mờ sương đêm, Vũ Huyến cảm nhận sâu
sắc được vẻ tĩnh lặng của hồ Hoàn Kiếm; hương vị ngào ngạt của hoa sữa, mùi
thơm ấm lòng toát ra từ gánh phở đêm! Ông trò chuyện với chị công nhân quét rác
trong đêm đông rét mướt, với người cựu chiến binh già bán nước chè đầu ngõ, với
bà cụ lưng còng sát đất đi bán khoai lang luộc nuôi thân. Với ông, cuộc sống
rất thú vị và có nhiều giá trị đáng để kiếm tìm.
Ông muốn ảnh nghệ thuật phải gần với đời thực. Nếu nhiếp ảnh là một phương
tiện giúp con người có thể giữ lại một khoảnh khắc cho mãi mãi, thì mỗi tấm ảnh
sẽ là một bằng chứng của quá khứ với hình hài của nó. Mỗi tấm ảnh ghi nhận một
cái nhìn của người bấm máy. Từ cái nhìn được lưu trong tấm ảnh, những người
không được chứng kiến hay các thế hệ sau được nhìn lại sự vật bằng nhãn quan
của tác giả. Do vậy, nhiếp ảnh còn được coi là một nghệ thuật của cái nhìn.
Vũ Huyến đã từng rong ruổi theo khắp nơi cả trong và ngoài nước: sinh viên,
cán bộ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, người chấm ảnh, dự hội thảo…&… Những bức
ảnh đầu tiên mà ông chụp là những bức ảnh đời thường. Có triết gia đã nói “Tình yêu là thứ có sẵn trong mỗi con người, là bản năng thiên phú, tình
cảm đẹp đẽ đó được bồi đắp trí tuệ thì sẽ sâu sắc rộng lớn hơn và trở nên có
giá trị”. Ông học và hành theo khuynh hướng này. Nắm bắt và ghi nhận được hơi thở
cuộc sống nơi mà ông đắt chân đến, mà “Mưa Cà Mau” là một ví dụ điển hình. Với
ông cái đẹp là muôn hình vạn trạng. Nó không chỉ toát lên một cách rạng rỡ của
một cuộc sống thanh bình với những người thân trong gia đình đầm ấm, với những
cảnh vật ở chốn thôn quê hay nơi thị thành, từ con người sống động đến những
cảnh mây trời, hoa, lá tưởng như vô tri vô giác. Ngay đến cả những tấm ảnh ghi
lại những biến cố của lịch sử tạo nên giá trị như những chứng nhân, thì cái đẹp
vẫn hiển hiện trong cả hai dáng vẻ bi và tráng. Đó là vẻ đẹp bi hùng trong
những tấm ảnh ghi lại cảnh đổ nát của chiến tranh, vẫn thấy hừng hực khát vọng
sống của một dân tộc sẵn sàng chết vì một cuộc sống tốt hơn. Chính cái chất
thông tấn của những bức ảnh như vậy làm nên giá trị lịch sử cho ảnh nghệ thuật.
Ảnh của ông lúc hồn nhiên ngây thơ, khi âu yếm, ngọt ngào, khi kìm nén, lúc
bùng lên mãnh liệt tỏa ra từ niềm vui, niềm tin vào một cuộc sống thật bình
yên. Lãng đãng như tác phẩm “Bức tranh bên cửa sổ”, “Niềm vui của em”,
“Người bán điều cày”, “Chân dung cuộc sống”…Ảnh của ông dung dị và chân thật,
chân thật như đặc trưng của nhiếp ảnh. Ông đã dẫn người xem làm cuộc hành hương
trở về cái tuổi ấu thơ của mình dẫu lòng có chút se lạnh man mác buồn nhưng vẫn
ấm áp. Ông có quan niệm nghệ thuật là một cái gì đó không hoàn hảo. Vũ Huyến
tiếp cận nghệ thuật nhiếp ảnh theo cách này, đưa người xem tiếp cận hiện thực
về một thế giới chưa hoàn mỹ, nhưng phải mang làn gió mát lành đầy hương sắc
đến với con người để khơi gợi và phát triển những tình cảm tốt đẹp của con người.
Ông chú ý nhiều tới mảng đề tài khám phá cuộc sống, nhiều bức ảnh nói lên sự
phức tạp của sự thật. Khi chụp ảnh có lẽ ông không chú ý lắm tới kỹ thuật và
ánh sáng, mà hướng nhiều hơn tới tình cảm của đối tượng. Sức sống của tác phẩm
là lời khẳng định cao nhất giá trị của tác phẩm. Ông chú ý tới những chi tiết
mang hồn sống trong bất kỳ không gian nào mà ông tìm kiếm. Có thể nói sự thành
công trên bước đường nghệ thuật của Vũ Huyến là phép tính cộng giữa một tâm
hồn mang đầy cảm xúc, sự nhạy bén của óc phán đoán và một chút lãng đãng và tếu
táo, biết kết hợp giữa cái cũ và cái mới để tạo ra những tác phẩm của riêng
mình.
- Hỏi ông bức ảnh nào của ông là bức ảnh ông tâm đắc nhất. Ông trả lời như
một sự bao biện: Bức ảnh tốt nhất là bức tôi chưa chụp. Bài báo hay nhất là bài
báo tôi vẫn chưa viết ra. Vì thế, dường như lúc nào tôi cũng đang trên hành
trình tìm kiếm. Cuộc đời đã châm lửa trong tôi và tôi có nhiệm vụ giữ cho nó
không tắt.- Thôi vậy, thế còn nói về ông?Ông quát to: DỞ HƠI, lại dỗi với mình, với cả cuộc đời rồi đây!Tôi cười và đọc cho ông câu thơ của nhà thơ Huy Quang mà tôi chợt nhớ. “Dở hơi nào dở hơi gìQuần em xắn lệch nhiều khi cũng tình”
 |
Tôi và anh Vũ Huyến tham gia Ban chấp hành Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam ( Khóa V) |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét