Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

THU VÀNG TRÊN DÃY SMOKY MOUNTAIN

Dòng suối chảy trong rừng Thu          



Mùa Thu, luôn là đối tượng thiên nhiên yêu thích của nhà nhiếp ảnh từ xưa đến nay. Cứ tầm cuối tháng 9 đến tầm đầu tháng 12 là mùa thu đã có ở nước ta, nhưng thấy rõ nhất vẫn là ở Miền Bắc VN. Mùa này, những nhiếp ảnh gia thường nôn nao tìm kiếm khắp nơi. Tôi đã từng cùng nhiều nhà nhiếp ảnh khác lang thang đây đó trong mùa thu nhằm “ chớp “ được những khung cảnh trời trong xanh, cây cối thay lá chuyển màu từ vàng qua xanh và những chiếc lá vàng đã rơi khi những gió nhẹ thoáng qua…Nhưng quả thật không không dễ dàng gì có được những bức ảnh đẹp để minh chứng cho một mùa thu đã qua. Chỉ có đọc bài thơ "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến thì có lẽ hiểu đúng chất về Mùa Thu.

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Tuy nhiên, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Văn Tâm vừa có một hành trình tìm kiếm mùa Thu ở Mỹ, anh gởi cho tôi một bộ sưu tập ảnh “THU VÀNG TRÊN DÃY SMOKY MOUNTAIN”. Tôi chia sẻ cùng bạn bè trên blog vậy :


”Sương khói” trên dãy Smoky mountain

”Sương khói” trên dãy Smoky mountain





THU VÀNG TRÊN DÃY SMOKY MOUNTAIN

Dãy núi Smoky Mountain dọc biên giới bang Tennesse và North Carolina, là vườn quốc gia ở Đông Nam nước Mỹ, rộng 76.000ha có độ cao trên dưới 1000 mét. Có lẻ từ smoky (smokies) do từ mờ sáng các thung lủng sâu tràn ngập mây luồn như sương khói.

Mùa Thu lá vàng Smoky Mountain vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, hàng năm thu hút khách khắp nơi trong ngoài nước ngắm cảnh, cắm trại, chụp ảnh, vui chơi… Trên các sườn núi, lá chuyển sang vàng, điểm tô bởi sắc đỏ của vài loại cây như lá phong (maple), giữa các khe núi là những dòng suối róc rách nước về thung lủng.


Trên dãy núi smoky còn có nhiều nai sừng tấm (elk) và gấu sinh sống, nai dễ thấy bên đường, gấu thỉnh thoảng băng ngang đường lúc xế chiều và đi men bên ngoài các khu nhà ở.




Thấy có bóng người lạ bọn nai lo sợ, đàn nai nhỏ bỏ chạy trước       

Con đường ôm sườn núi 


Một chú nai vàng ngơ ngác…
            


Thu vàng chuyển đỏ của một số cây như lá phong…

Lá vàng đỏ bên vệ đường



Nơi các dòng suối rì rào nước chảy quanh năm

Một ngôi nhà trong thung lủng


Bình minh sương tụ bên vách núi       

Lá vàng đỏ chen vào nền xanh vách núi, giữa là con đường lên đỉnh        


Cũng có nhiều ngôi nhà cheo leo bên vách núi          


Khu phố dưới thung lủng còn đỏ đèn khi mặt trời ló dạng trên đỉnh núi xa xa  




Mặt trời sắp lặn trên dãy núi trùng điệp     





Khu nhà trong thung lủng giữa rừng Thu




Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

CÂU CHUYỆN VỀ NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ

Thời kỳ sáng tạo quốc ngữ được viết trên nhiều văn kiện và sách giáo lý, trong đó đúc kết bằng quyển tự điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày của cha Alexandre de Rhodes in năm 1951 tại Roma – Ý, nay còn 1 cuốn sách Phép giảng tám ngày còn lưu giữ tại nhà thờ Mằng Lăng. 
Anh Nguyễn Văn Tâm, chuyển cho tôi các bài viết và bộ sưu tập ảnh về nguồn gốc chữ quốc ngữ của nước ta. Đọc thấy thú vị và độc đáo, tôi chia sẻ lên Blog LANG THANG để cùng các bạn bè vậy…

+ĐÀI KỶ NIỆM ĐÁNH DẤU NÔI SÁNG TẠO QUỐC NGỮ

 Thế kỷ thứ 16 Ki Tô giáo đã truyền sang phương Đông trên cung đường thương thuyền Âu - Á. Điểm dừng buôn bán chánh ở phương Đông của người Bồ Đào Nha là Macao. Trên các thương thuyền Bồ Đào Nha còn có các Cha tuyên uý cho thuỷ thủ đoàn và các nhà truyền giáo dòng Tên. Từ đó, ngày 23/01/1576 giáo phận Macao được thành lập gồm Nhật Bản, Macao, Trung Hoa, Việt Nam, Cam Bốt và Thái Lan.

Ngày 18/01/1615 đoàn thừa sai dòng Tên - Bồ Đào Nha đến cửa Hàn, năm 1917 các ngài bị trục xuất bởi lệnh Chúa Sãi nhưng thuyền không ra khơi được vì gió mùa nghịch. Các cha được quan Tuần phủ Qui Nhơn ông Trần Đức Hoà đưa về Qui Nhơn trị bệnh và năm 1918 ông cho lập cư sở Nước Mặn để các nhà thừa sai làm việc và truyền đạo, gồm: linh mục Buzomi, linh mục Pina, linh mục Borri và tu huynh Diza. Tại cư sở Nước Mặn các cha đã chuyên tâm học tiếng Việt, nghiên cứu lối sống, văn hoá, chữ viết địa phương và ghi lại bằng mẫu tự La Tinh tương ứng với cách phát âm.

Nhờ học thông hiểu tiếng Việt, các ngài đã dịch sách giáo lý sang tiếng Việt (chữ Nôm), dần dần bản phiên âm bằng mẫu tự La Tinh được ghép với chữ Nôm đã được giới bình dân yêu chuộng. Đây là hình thái đầu tiên về việc La Tinh hoá ngôn ngữ Việt Nam, trước khi được linh mục Alexandre de Rhodes hoàn thiện bằng quyển tự điển Việt-Bồ-La và quyển Phép giảng tám ngày xuất bản năm 1651. Riêng quyển Phép giảng tám ngày còn một bản duy nhất lưu giữ tại nhà thờ Mằng Lăng – Phú Yên.

Khởi đầu sáng tạo quốc ngữ nhờ công lao đầu tiên của các thừa sai dòng Tên, linh mục Bozumi, linh mục Pina và linh mục Borri và công đức ông Trần Đức Hoà tạo điều kiện nơi chốn làm việc tại Nước Mặn – nôi của quốc ngữ Việt Nam ngày nay.
 
Đài hình cây cổ thụ - biểu tượng gốc quốc ngữ, nhìn nhánh lá từ trên xuống           

Nhà bác Anh, phía trước là các cháu đến chơi 

Đài hình cây cổ thụ - biểu tượng gốc quốc ngữ, nhìn nhánh lá từ trên xuống           

Đài kỷ niệm Nước Mặn - nôi sáng tạo quốc ngữ nằm trong vườn nhà ông Võ cự Anh, thôn An Hoà, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước Bình Định, đánh dấu cư sở các nhà truyền giáo bắt đầu sáng tạo quốc ngữ từ năm 1618, 


Thân cây có bia ghi dòng lịch sử được khắc ngày 15/7/2011, công trình hoàn thành ngày 31/7/2011 và được Đức Cha Nguyễn Soạn làm phép khánh thành công trình ngày 5/8/2011.

Bác Võ Cự Anh 75 tuổi (2017), người hiến đất vườn cho toà Giám mục Qui Nhơn xây đài kỷ niệm



+TIỂU CHỦNG VIỆN LÀNG SÔNG

Quần thể Tiểu Chủng viện Làng Sông thuộc giáo xứ Tân Dinh, thôn Quảng Vân, xã Phước Thịnh, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Toạ lạc thơ mộng giữa đồng ruộng lúa, vây quanh bởi hệ thống sông ngòi đổ ra đầm Thị Nại, là quần thể kiến trúc tuyệt đẹp, lại được che chở bởi những tàng sao cổ thụ làm tăng vẻ cổ kính.

Quần thể này rộng 32.903 m2, được thành lập vào khoảng năm 1841-1850, với khu phía Đông là Chủng viện khu phía Tây là cơ sở nhà chung gồm Toà Giám mục, Sở quản lý và nhà in. Sau nhiều biến cố bách hại bởi sắc dụ cấm đạo nhà Nguyễn và bị Văn Thân thiêu huỷ toàn bộ năm 1885. Năm 1887 Sở quản lý được tái thiết, sau đó là Toà Giám mục, đến năm 1931 Toà Giám mục dời về Qui Nhơn. Nhà nguyện được xây bằng đá năm 1892 và trở thành nhà thờ chánh toà giáo phận. Đức Cha Đaminano Grangeon Mẫn tái thiết nhà in Làng Sông năm 1904, đến năm 1925 Đức Cha cho xây lại chủng viện Làng Sông theo thiết kế của Cha Dorgeville, hoàn thành ngày 21/9/1927, tồn tại đến ngày nay.

Nhà in Làng Sông là nhà in chữ quốc ngữ đầu tiên trong nước, riêng năm 1922 đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại và 32.000 ấn phẩm khác. Nhà in hoạt động đến năm 1936 được dời về Qui Nhơn, nhà in Làng “Sông” là một nhánh phát triển của dòng “Suối” đầu nguồn Nước Mặn, nơi phát nguyên chữ quốc ngữ.

Với nét đẹp quyến rủ, quần thể Chủng viện Làng Sông chẳng những là nơi hành hương tổ chức Đại lễ của Công giáo, còn trở thành điểm du lịch của nhiều người tìm về kiến trúc cổ, nay còn nguyên vẹn giữa làng quê.

Sau Đại Lễ các Đức Giám Mục và các Linh Mục chào thăm giáo dân dự lễ trên sân Tiểu chủng viện

Đại Lễ khai mạc năm thánh Giáo phận Qui Nhơn ngày 26/7/2017, chủ tế: Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đức Giám Mục Nguyễn Chí Linh và Nguyễn Văn Khôi

Sân nhà nguyện chuẩn bị Đại Lễ năm thánh Giáo phận Qui Nhơn         

Nhà in đầu tiên ở Việt Nam (khoảng 1865-1935)       

Cận ảnh quần thể Tiểu Chủng viện giữa mùa gặt đồng lúa chín

Hồ tiểu cảnh góc sân trước nhà in
            

Quang cảnh thơ mộng của quần thể Tiểu Chủng viện giữa cánh đồng lúa và bên dòng sông uốn khúc       

Tiểu Chủng viện Làng Sông giữa cánh đồng lúa chín xung quanh

Cận ảnh quần thể Tiểu Chủng viện giữa mùa gặt đồng lúa chín

Mặt trước Tiểu Chủng viện Làng Sông

Giờ kinh nguyện của các Sơ trong nhà nguyện      




 + NHÀ THỜ MẰNG LĂNG

Nhà thờ Mằng Lăng nằm trên địa bàn huyện Tuy An tỉnh Phú Yên, thuộc Giáo xứ Mằng Lăng, là nơi sinh của Chân Phước Andrê Phú Yên, là vị tử đạo đầu tiên của giáo hội Công Giáo Việt Nam, được thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đặt làm bổn mạng giáo lý viên công giáo. Lúc sinh thời thầy Andrê là cộng sự viên thân tín của Cha Alexandre de Rhodes.

Từ cái nôi Công giáo ở Nước Mặn, Qui Nhơn, các nhà thừa sai Dòng Tên đã đến Mằng Lăng truyền giáo từ thế kỷ XVII. Hoa quả của công cuộc truyền giáo này là việc rửa tội cho Công Chúa Ngọc Liên, vợ của quan trấn thủ Dinh Trấn Biên, người đã xây dựng một nhà nguyện công giáo tại nơi đây năm 1636. Nhà thờ Mằng Lăng khởi công năm 1892, hoàn thành sau 15 năm xây dựng, đây là nhà thờ cổ nhất tỉnh Phú Yên và là một trong những nhà thờ lâu đời nhất của Việt Nam. Trải qua 125 năm, nhà thờ qua nhiều lần tu sửa, riêng mặt tiền với hai tháp chuông và thánh giá ở giữa vẫn nguyên như cũ. Nhà thờ còn lưu giữ cuốn sách chữ quốc ngữ đầu tiên - PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY của linh mục Alexandre de Rhodes, in năm 1651 tại Roma, Ý.

Hiện nay, nhà thờ là điểm đến thu hút khách du lịch, là nơi hành hương thường xuyên giáo dân Công giáo và đặc biệt vào dịp lễ kỷ niệm Chân phước Andrê Phú Yên, 26/7.

(Ảnh :Nguyễn Tâm, Minh Thọ, Bảo Long và Thế Thắng.)




Nhà thờ Mằng Lăng lúc chuẩn bị lễ chiều


Nhà thờ Mằng Lăng và khu dân cư xung quanh

Góc và cạnh trái nhà thờ      

Góc và cạnh trái nhà thờ      


Góc và cạnh trái nhà thờ      



Tượng Thánh Andrê Phú Yên ở sảnh nhà thờ và bên trong đền Thánh, người góp công với Cha Alexander de Rhode




VÙNG CAO của NGUYỄN HỮU THÀNH

Ông già Tây Nguyên Nhà Lý luận phê bình Nguyễn Văn Thành TÔI lang thang một cách thích thú qua những bức ảnh và tìm lối vào những s...