Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015

Phía sau NGHỆ THUẬT


Nhà Nhiếp ảnh VŨ HUYẾN


             Nickname Thanh Bằng trên facebook luôn có những bài viết tôi thích đọc. Cách đây hai hôm anh post lên bài viết “ Phía sau NGHỆ THUẬT”đọc thích quá.  Tôi thích bài có hai khía cạnh, Môt là lối viết văn diễn tả nhân vật một cách “ trong ruột” của anh là “gu” đọc của tôi; Hai là nhận vật trong bài viết là anh Vũ Huyến – một đại ca của tôi đúng nghĩa từ ngoài đời cho đến trong lĩnh vực chơi ảnh Nghệ Thuật báo chí. Thật ra cả anh Nguyễn Thành ( nick Thanh bằng) và anh Vũ Huyến đầu là những người có tầm cở ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật Nhiếp ảnh Việt Nam, vì cả hai anh đều là những nhà lý luận phê bình giỏi. Tôi thể hiện tình cảm của tôi bằng cách đưa hai Ông Anh lên trên blog LANG THANG vậy. 
( Trích một số bức ảnh trong tập sách NHIẾP ẢNH VÀ CUỘC SỐNG của Vũ Huyến)

Phía sau NGHỆ THUẬTNguyễn Thành
Hai ông anh Nguyễn Thành & Vũ Huyến
Tôi và đại ca Vũ Huyến tại Campuachia ( 2008)

 Ông quẳng cho tôi cuốn sách với lời đề tặng: “Thân tặng nhà báo, nhà nhiếp ảnh, nhà nghiên cứu lý luận phê bình Văn Thành – Để lưu niệm những tháng năm Cùng sống, Cùng chụp, Cùng viết và Cùng suy nghĩ”. Đó là cuốn “Nhiếp ảnh và cuộc sống” mới xuất bản của ông. Vũ Huyến là một người đi nhiều, cảm nhiều và viết khỏe, nhiều dự định của ông đang được hình thành. Đằng sau những trang viết là đời, là nghiệp của ông.

Vượt qua sự ồn ào bên ngoài, người ta thấy VŨ HUYẾN có một tình yêu thầm lặng và nồng cháy. Nồng cháy thì ai biết ông cũng có thể chấp nhận, còn thầm lặng với Vũ Huyến thì dường như là nghịch lý, một sự vô lý. Bởi lẽ từ trước tới nay nơi nào, chỗ nào có mặt Vũ Huyến, nơi đó có tiếng cười, niềm vui và cả nước mắt. Nó cứ đến, cứ diễn ra một cách tự nhiên, như vốn dĩ phải vậy. Ai không cười, ông cười, ai không khóc, ông khóc, ai không yêu thương, ông yêu thương. Đã có lúc ông tự bạch, Vũ Huyến - “dớ dẩn”: yêu - không yêu, chấp nhận - không chấp nhận, phản đối - không phản đối…, như một sự cứu rỗi, như một định mệnh. Nghịch lý ở đây là có thật.

Tôi đang cặm cụi trên căn phòng tầng 2, chúi mũi vào chiếc màn hình máy tính. Ông gọi tôi đến, rồi để tôi ở nhà một mình đi đón cháu. Quả thực tôi đã đọc nhiều bài ông viết nhưng ít được xem ảnh ông chụp. Là một trong số ít người được đào tạo cơ bản về nhiếp ảnh, thú thật tôi coi nhẹ mảng này ở ông. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi được xem một cách tổng thể, và thật bất ngờ trước cách tiếp cận cuộc sống của ông, một cuộc sống phía sau nghệ thuật.
 Đúng lúc mải mê nhất thì có tiếng nói vang lên.-Cháu chào ông. Cháu là Trung Hiếu và đây là bạn cháu tên Hùng.Chào hai cháu, đi học về hả-Vâng, cháu bật điện cho ông nhé. Tay cậu bé đã để sẵn trên công tắc điện. Nhìn qua khung cửa sổ mới biết mùa thu ngày đã ngắn rồi.Được, cảm ơn cháu. Thằng bé giống hệt ông cả từ tác phong, dáng vẻ đến cách ăn nói. Hình ảnh Vũ Huyến mấy chục năm trước hiện về: loi choi, nhanh nhẩu và chu đáo. Khi đó tôi mới ra trường về nhận công tác ở một tờ báo đối ngoại. Lần đầu tiên gặp ông, ông chủ động chìa tay bắt: mình Vũ Huyến, xin được làm quen. Ông để lại ấn tượng trong tôi về một phong cách rất “Tây” nhưng được “diễn” rất quê mùa pha chút bụi đời của Vũ Huyến.Tôi quen ông từ đấy. 

 Đối với tôi, ông là người anh. Đối với nhiếp ảnh ông là một trong những người tận tụy, lưu giữ, ghép nối lại từ những mảnh rời rạc để xây dựng nền nhiếp ảnh chính qui của nước nhà. Những gì hợp với suy nghĩ của ông là ông lao vào, làm việc như một kẻ “ham hố”, để rồi thành công lại đứng ra một bên hờn dỗi như một đứa trẻ bị hàm oan, bị hắt hủi, để rồi “chứng nào lại tật ấy”, chẳng thể đổi thay. Từ ngày tôi quen ông đến bây giờ vẫn vậy, chỉ có làn da như chiếc áo vải bông mà chủ nhân ít chăm chút là lượt còn con người thì ít suy tư hơn. Lạ thật, với Vũ Huyến cái gì cũng đối nghịch, ngoại trừ nhiếp ảnh, lúc nào ông cũng đau đáu trong mình.

Hôm trước trên “Diễn đàn văn hóa” của VTV, ông phát biểu: Theo tôi, sự chuyên nghiệp trong nghề ảnh báo chí trước hết ở nhận thức: ảnh báo chí như một loại hình báo chí độc lập. Hiện nay, các tòa soạn hầu hết là không có phóng viên ảnh chuyên nghiệp mà chỉ có phóng viên tiếp cận sự kiện để viết bài rồi chụp ảnh luôn. Vì thế, ảnh báo chí hiện nay vẫn mang tính minh họa cho bài viết nhiều hơn. Có hàng trăm tờ báo dùng ảnh hàng ngày, nhưng nếu bày cùng lúc những bức ảnh xuất hiện  trên các mặt báo và tạp chí trong một ngày để tìm thấy ở đó chứa đựng bao nhiêu sự kiện thật, sự kiện mới có sức tác động đến độc giả, thì quả thực không nhiều. Tôi cho rằng, ảnh báo chí trong giai đoạn hiện nay, mặc dù được sự hỗ trợ của những máy móc tối tân, song vẫn không có những thành tựu như ảnh báo chí trong thời kỳ chiến tranh, trong điều kiện thiếu thốn vật tư, trang thiết bị về ảnh. Sự đầu tư trí tuệ, chất xám trong mỗi bức ảnh còn ít. Máy móc hỗ trợ nhiều cho con người, song cũng có hệ lụy là khiến người chụp ngày một "lười" đi. Việc tuyển chọn đầu vào ở các trường có đào đạo chuyên ngành ảnh báo chí cũng có vấn đề. Không nên chỉ tuyển học sinh phổ thông, mà nên tuyển những người có năng khiếu, có kinh nghiệm với tiêu chí sau khi ra trường phải là các phóng viên ảnh chuyên nghiệp. Tăng cường số giờ thực hành, giảm giờ học lý thuyết và tăng cường số giờ giảng có các thầy là nhà báo có kinh nghiệm về ảnh đến dạy. Ở các tòa soạn, ngoài việc có phóng viên ảnh độc lập, biên tập viên, thư ký tòa soạn, các phóng viên cũng cần được trang bị kiến thức về ảnh. 
Ngày xưa ông đã nói thế, bây giờ ông vẫn nói thế. Ông không thay đổi hay loại hình ảnh báo chí của ta chậm đổi thay. Ông cho rằng mỗi năm ở ta có hàng vài chục cuộc thi và triển lãm. Tuy vậy nhưng chất lượng các tác phẩm ảnh không cao, it người để tâm tìm tòi, khám phá những nét mới trong thiên nhiên, cuộc sống…, người ta vẫn thích đi theo lối mòn sẵn có. Muốn phát triển hơn nữa, Nhiếp ảnh Việt Nam cần biết từ bỏ lối mòn. Trong khi đó, nghệ thuật luôn đòi hỏi những góc nhìn riêng, chứa đựng cái tôi cá nhân để người thưởng thức nhìn vào, họ có thể cảm nhận được sự lao động sáng tạo của người nghệ sĩ. Nghệ thuật nói chung và nhiếp ảnh nói riêng, phải làm cho người ta thấy cái họ chưa thấy, hoặc giúp họ nhận ra vẻ đẹp bất ngờ ngay trong chính những điều quen thuộc quanh mình... Đừng quên, bức ảnh không phải chỉ để cho anh nhìn thấy cái gì trên đó, mà quan trọng hơn là đằng sau đó! Ông đã âm thầm làm điều này.
 Vốn là dân văn, vì thích chụp ảnh mà mượn máy chụp chơi và được đăng báo, bị quyến rũ bởi công việc này, rồi trở thành Nhà Lý luận phê bình nhiếp ảnh Vũ Huyến,Tổng biên tập Tạp chí Nhiếp ảnh, Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu. Ông đến với nhiếp ảnh một cách tình cờ nhưng gắn bó với nó như duyên phận. Vũ Huyến sinh tại Hà Nội, tốt nghiệp khoa Văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1963 - 1967), sau đó theo học khoa Báo chí, bộ môn ảnh Trường Đại học Tổng hợp Lomonosov (Liên Xô cũ).Ông có một tuổi thơ khá vất vả, cuộc sống đã rèn ông thành một người năng động.Ngày nay sống trong ngôi nhà mới khang trang trong ngõ 191 Minh Khai, ông lại nhớ về túp lều tranh cũ nát ngoài bãi sông Hồng. Ông là con út của vợ chồng một gia đình Hà Nội gốc, mồ côi cha từ khi chưa đầy hai tháng tuổi. Tuổi thơ ông là những ngày trôi dạt ngoài bãi Lương Yên, trên bến phà Đen, cùng mẹ và người anh trai lầm lũi kiếm sống. Ông làm đủ việc, từ vớt củi trên sông đem vào phố bán, đến bán kem, bán lạc rang, kéo xe bò thuê, hái ổi thuê, vẽ thuê ... Có đêm, cậu bé Vũ Huyến, 14 tuổi, kéo chiếc xe ba gác chở hàng thuê từ nội thành về huyện Thanh Trì, trên quãng đường dài mà số cây số đi qua nhiều hơn cả số tuổi. Trả hàng xong, một mình lủi thủi kéo xe về, nhìn ánh đèn le lói từ các ngôi nhà yên ấm ven đường, tủi thân, nước mắt cay sè. Có lẽ chính cuộc đời cơ cực đó đã làm ông biết thương người và sớm có ý thức tự lập, quyết chí vươn lên.
 Gần ba mươi năm trước (1985), khi còn là phóng viên Báo ảnh Việt Nam thường trú ở Thủ đô Phnôm Pênh, những lúc rỗi việc, Vũ Huyến thường đi bộ dọc theo bờ sông Mekong, đoạn chảy qua thành phố, vừa thư giãn vừa để tìm hiểu cuộc sống và chụp ảnh. Kể từ đó, đi bộ dần dà trở thành thói quen, thành môn thể thao mà ông ưa thích. Mùa hè cũng như mùa đông, ngày nào cũng vậy, Vũ Huyến dạy từ rất sớm, đi bộ từ nhà lên cầu Long Biên, vòng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm, đều đặn hơn 10 km, rồi mới trở về chuẩn bị đi làm. Trời quang mây tạnh ông đi, trời mưa ông cũng khoác áo mưa vào,... đi! Khi thành phố còn mờ sương đêm, Vũ Huyến cảm nhận sâu sắc được vẻ tĩnh lặng của hồ Hoàn Kiếm; hương vị ngào ngạt của hoa sữa, mùi thơm ấm lòng toát ra từ gánh phở đêm! Ông trò chuyện với chị công nhân quét rác trong đêm đông rét mướt, với người cựu chiến binh già bán nước chè đầu ngõ, với bà cụ lưng còng sát đất đi bán khoai lang luộc nuôi thân. Với ông, cuộc sống rất thú vị và có nhiều giá trị đáng để kiếm tìm. 


Ông muốn ảnh nghệ thuật phải gần với đời thực. Nếu nhiếp ảnh là một phương tiện giúp con người có thể giữ lại một khoảnh khắc cho mãi mãi, thì mỗi tấm ảnh sẽ là một bằng chứng của quá khứ với hình hài của nó. Mỗi tấm ảnh ghi nhận một cái nhìn của người bấm máy. Từ cái nhìn được lưu trong tấm ảnh, những người không được chứng kiến hay các thế hệ sau được nhìn lại sự vật bằng nhãn quan của tác giả. Do vậy, nhiếp ảnh còn được coi là một nghệ thuật của cái nhìn. 



Vũ Huyến đã từng rong ruổi theo khắp nơi cả trong và ngoài nước: sinh viên, cán bộ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, người chấm ảnh, dự hội thảo…&… Những bức ảnh đầu tiên mà ông chụp là những bức ảnh đời thường. Có triết gia đã nói “Tình yêu là thứ có sẵn trong mỗi con người, là bản năng thiên phú, tình cảm đẹp đẽ đó được bồi đắp trí tuệ thì sẽ sâu sắc rộng lớn hơn và trở nên có giá trị”. Ông học và hành theo khuynh hướng này. Nắm bắt và ghi nhận được hơi thở cuộc sống nơi mà ông đắt chân đến, mà “Mưa Cà Mau” là một ví dụ điển hình. Với ông cái đẹp là muôn hình vạn trạng. Nó không chỉ toát lên một cách rạng rỡ của một cuộc sống thanh bình với những người thân trong gia đình đầm ấm, với những cảnh vật ở chốn thôn quê hay nơi thị thành, từ con người sống động đến những cảnh mây trời, hoa, lá tưởng như vô tri vô giác. Ngay đến cả những tấm ảnh ghi lại những biến cố của lịch sử tạo nên giá trị như những chứng nhân, thì cái đẹp vẫn hiển hiện trong cả hai dáng vẻ bi và tráng. Đó là vẻ đẹp bi hùng trong những tấm ảnh ghi lại cảnh đổ nát của chiến tranh, vẫn thấy hừng hực khát vọng sống của một dân tộc sẵn sàng chết vì một cuộc sống tốt hơn. Chính cái chất thông tấn của những bức ảnh như vậy làm nên giá trị lịch sử cho ảnh nghệ thuật.

Ảnh của ông lúc hồn nhiên ngây thơ, khi âu yếm, ngọt ngào, khi kìm nén, lúc bùng lên mãnh liệt tỏa ra từ niềm vui, niềm tin vào một cuộc sống thật bình yên. Lãng đãng như tác phẩm “Bức tranh bên cửa sổ”, “Niềm vui của em”, “Người bán điều cày”, “Chân dung cuộc sống”…Ảnh của ông dung dị và chân thật, chân thật như đặc trưng của nhiếp ảnh. Ông đã dẫn người xem làm cuộc hành hương trở về cái tuổi ấu thơ của mình dẫu lòng có chút se lạnh man mác buồn nhưng vẫn ấm áp. Ông có quan niệm nghệ thuật là một cái gì đó không hoàn hảo. Vũ Huyến tiếp cận nghệ thuật nhiếp ảnh theo cách này, đ­ưa ngư­ời xem tiếp cận hiện thực về một thế giới chư­a hoàn mỹ, nhưng phải mang­ làn gió mát lành đầy hư­ơng sắc đến với con người để khơi gợi và phát triển những tình cảm tốt đẹp của con ngư­ời. Ông chú ý nhiều tới mảng đề tài khám phá cuộc sống, nhiều bức ảnh nói lên sự phức tạp của sự thật. Khi chụp ảnh có lẽ ông không chú ý lắm tới kỹ thuật và ánh sáng, mà hướng nhiều hơn tới tình cảm của đối t­ượng. Sức sống của tác phẩm là lời khẳng định cao nhất giá trị của tác phẩm. Ông chú ý tới những chi tiết mang hồn sống trong bất kỳ không gian nào mà ông tìm kiếm. Có thể nói sự thành công trên b­ước đ­ường nghệ thuật của Vũ Huyến là phép tính cộng giữa một tâm hồn mang đầy cảm xúc, sự nhạy bén của óc phán đoán và một chút lãng đãng và tếu táo, biết kết hợp giữa cái cũ và cái mới để tạo ra những tác phẩm của riêng mình.

 - Hỏi ông bức ảnh nào của ông là bức ảnh ông tâm đắc nhất. Ông trả lời như một sự bao biện: Bức ảnh tốt nhất là bức tôi chưa chụp. Bài báo hay nhất là bài báo tôi vẫn chưa viết ra. Vì thế, dường như lúc nào tôi cũng đang trên hành trình tìm kiếm. Cuộc đời đã châm lửa trong tôi và tôi có nhiệm vụ giữ cho nó không tắt.- Thôi vậy, thế còn nói về ông?Ông quát to: DỞ HƠI, lại dỗi với mình, với cả cuộc đời rồi đây!Tôi cười và đọc cho ông câu thơ của nhà thơ Huy Quang mà tôi chợt nhớ. “Dở hơi nào dở hơi gìQuần em xắn lệch nhiều khi cũng tình”




Tôi và anh Vũ Huyến tham gia Ban chấp hành Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam ( Khóa V)



Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

QUA MIỀN TÂY BẮC

“Qua miền Tây Bắc, núi vút ngàn trùng xa, suối sâu đèo cao….” lời bái hát của tác giả Nguyễn Thành tôi mượn để đặt tựa cho bài viết này…..Có đi Tây Bắc mới cảm được cảnh núi non điệp điệp trùng trùng, mây trôi lãng đãng và lúc ẩn, lúc hiện những con đường đèo như một chỉ trắng nhỏ nằm bên sườn núi, bên vực thẳm….
Những ngày đầu mùa đông lạnh giá năm 2014, chúng tôi quyết định lên đường đi Tây Bắc. Đối với tôi, đây là chuyến đi đầu tiên nên sự hăm hở, thích thú là điều hiển nhiên. Trong hành trình bốn đêm năm ngày, chúng tôi phải vượt qua một đường dài ước chứng khoảng 1200 km với những đồi núi, đèo dốc với sương mù và mây bao phủ và phải vượt qua 2  trong số  "tứ đại đỉnh đèo" của Việt Nam là đèo Ô Quy Hồ, Pha Đin....
Một góc hồ thủy diện Sơn La ở Muồng Lay

Dãy núi Hoàng Liên Sơn nhìn từ tỉnh Lai Châu

Hoa cải trắng ở Mộc Châu

Cung đường chúng tôi đi khởi hành từ Hà Nội đến Lao Cai – Lai Châu – Điện Biên – Sơn La và về lại Hà Nội. Các anh trong đoàn nói, đây là cung đường của nhiếp ảnh kể cả mùa đông hoặc mùa hè. Thật vậy, trên suốt những chặng đường lúc chạy bon bon trên những con đường lán nhựa, cũng như khi vượt qua những đoạn đường đất đá gian khó chúng tôi đã bắt gặp những sắc màu riêng biệt của từng bản làng dân tộc thiểu số ở đâynhư  Mông đỏ, đen Mông “ Xù”, và người dân tộc Lự sống lẻ loi trong 2 huyện Sìn Hồ và Phong Thổ mà nghe nói chỉ còn hơn 4.000 người... Riêng tôi, lần này đã thực hiện được điều mong muốn là 1 lần đến thăm di tích Điện Biên Phủ và còn được thưởng thức 1 đêm thú vị ở Sapa lạnh giá với mây trôi phủ đầy thị trấn ngày cũng như đêm……Thật là, một chuyến đi nhớ đời nên tôi chia sẻ trên BLOG vậy…..
TP Điện Biên năm ở thung lủng Mường Thanh

Thị xã Mường Lay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết rằng:

Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng).



Mây trôi ở đỉnh đèo Ô Quy Hồ

Sa Pa mùa đông

Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.

Đêm ở Sa Pa

Người H' Mông ở Sa Pa

Mộc Châu - Sơn La

Cây cầu lịch sử Mường Thanh

Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc - tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 OC. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc.

Con suối nhỏ đèo Pha Din

Trên đỉnh Cổng Trời Sa Pa

Duyên H' Mông

Phiên chợ nhỏ ven đường

Hầm De cat 
 Về cơ bản, vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Thái là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông

Người H'Mông tóc Xù

Người H'Mông Đỏ


Chợ Gà ở Mường Thanh

Hoa Dã Quì tràn ngập Tây Bắc

Người dân tộc Lự

Người Lự dệt vải

Người Lự nấu rượu

Cô gái dân tộc Lự



Đêm đông

Người Thái làm Cọn nước


Ở Tuần Giáo - Điện Biên

Giúp cha mẹ