Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

TÔI LÊN TÂY NGUYÊN..


Lên Nương
Tôi đã có 3 lần lên Tây Nguyên. Cứ mỗi lần đi tôi lại khám phá ra nhiều điều thú vị về vùng đất huyền thoại này. Và, chuyến đi tháng 3 năm 2014 là chuyến đi khác lạ khi tôi có nhiều thời gian tiếp xúc với nhiều lễ hội dân gian của người bản xứ Ê Đệ, M’Nông v.v với nhiều cảm xúc tràn đầy…
Rừng Khộp

Thác Dray Sap

Thiếu nữ M'Nông

Tắm sông Serepok




Theo “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”

Trước thế kỷ 19, Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa ở phía đông hoặc Chân Lạp ở phía tây nhằm cướp bóc và bắt nô lệ. Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống vua Champa là Trà Toàn, sáp nhập 3 phần 5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt. Hai phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.

Hạn Hán


Múa hát
 Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Hré, Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh,Djarai Mnong và Rhadé Epan, Raglai, Mạ để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay

Lễ cúng Bến Nước

Khu du lịch Buôn Đôn

Lễ hội Đâm Trâu
.
Cúng Bến Nước


Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789). Tây Sơn thượng đạo, vùng đất phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn thủơ ban đầu. Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người vợ dân tộc Ba Na của Nguyễn Nhạc.

Mua và Bán

Thi voi đá Banh

Thi voi chạy tốc độ

Thi voi bơi qua sông Serepok

Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc người Thượng sinh hoạt trong xã hội truyền thống. Mãi đến giữa thế kỷ 20 sau cuộc di cư năm 1954 thì số người Kinh mới tăng dần.

Cồng Chiêng

Đánh cá Hồ Lak

Voi ở Hồ Lak

Từ đó nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông...

Người M'Nông làm chổi

Khát nước

Nụ cười M;Nông


Già làng N;Nông

Tây Nguyên, nay đã là một vùng đất chiến lược của thời Việt Nam hiện đại ngày nay. Chính vì vậy hiểu thêm về đất và người ở đây cũng là một sự hãnh diện của một công dân Việt – Tôi nghĩ thế!

Đôi bạn...

1 nhận xét:

tên thật Lê Đăng Mành nói...

Thật tuyệt vời!Từ lâu Tôi đã liên kết với blog của Hữu Thành !xin cám ơn...!